Kiến thức phòng bệnh, chữa bệnh, các bài thuốc dân gian.
Thông tin sức khỏe

Viêm gan siêu vi C là gì, đường lây, mức độ nguy hiểm và cách điều trị

Viêm gan hiện nay là một căn bệnh rất thường gặp và là “kẻ thù nguy hiểm” khiến con người sợ hãi. Có rất nhiều loại viêm gan như A, B, C, D trong đó viêm gan C là một bệnh đáng sợ và có thể dẫn tới nhiều căn bệnh khác như xơ gan, ung thư gan…

viêm gan siêu vi C là gì? cách điều trị viêm gan siêu vi C, đối tượng dễ mắc viêm gan siêu vi C, viêm gan siêu vi C có nguy hiểm không?

Cấu trúc của vi rút viêm gan siêu vi C

Viêm gan siêu vi C là gì?

Theo Tiến sĩ-Bác sĩ Lê Mạnh Hùng-Phó giám đốc bệnh viện nhiệt đới TP.HCM thì bệnh viêm gan siêu vi C là bệnh nhiễm trùng do siêu vi viêm gan C xâm nhập vào cơ thể đi đến gan và gây bệnh. Đây không phải là bệnh di truyền mà vốn là do rối loạn cấu trúc di truyền (gen, nhiễm sắc thể) có thể truyền bệnh cho gia đình dòng họ, chỉ khi nào bị lây nhiễm siêu vi C thì mới có thể bị bệnh viêm gan siêu vi C.

Khác với bệnh viêm gan B, khi bị nhiễm siêu vi viêm gan C bệnh sẽ diễn biến thành mãn tính và rất hiếm khi gây ra thể viêm gan tối cấp. Vi rút viêm gan C là vi rút được gọi là “sừng sỏ” trong tất cả các loại vị rút gây nên viêm gan. Tỷ lệ những ca tiến triển thành bệnh là rất lớn và tỷ lệ biến chứng là rất cao.

– Các kiểu virus viêm gan C:

Virus viêm gan C có 6 kiểu chính, gọi là kiểu gen.

Kiểu gen không ảnh hưởng đến độ nặng của bệnh nhưng sẽ ảnh hưởng đến việc bạn sẽ được điều trị như thế nào. Kiểu gen của virus được xác định bằng xét nghiệm máu trước khi bắt đầu điều trị.

Việc xác định kiểu gen là vấn đề quan trọng vì có một số kiểu gen dễ điều trị hơn một số kiểu gen khác. Điều này có nghĩa là việc điều trị sẽ khác nhau tùy theo kiểu gen. Các loại kiểu gen được mô tả như sau:

Kiểu gen 1 được tìm thấy chủ yếu ở châu Âu và Bắc Mỹ (khoảng 70% người bị viêm gan C ở những vùng này bị nhiễm kiểu gen 1). Loại này khó điều trị hơn và cần 48 tuần để diệt sạch virus.

Kiểu gen 2 và 3 dễ điều trị hơn, và nhiều bệnh nhân mắc thể viêm gan này có thể làm sạch virus chỉ sau 24 tuần điều trị (khoảng 30% người bị viêm gan C ở châu Âu và Bắc Mỹ bị nhiễm kiểu gen 2 và 3). Kiểu gen 2 và 3 cũng thường gặp ở Úc và vùng Viễn Đông.

Kiểu gen 4 thường gặp ở Trung Đông và châu Phi và được điều trị trong 48 tuần, như kiểu gen 1 (khoảng 90% người bị viêm gan C ở Trung Đông và châu Phi bị nhiễm kiểu gen 4).

Kiểu gen 5 & 6 hiếm hơn, và được điều trị trong 48 tuần, như kiểu gen 1 & 4. ( ở Việt Nam kiểu gen 6 chiếm tỷ lệ cao khoảng 20%, chỉ sau kiểu gen 1) 3.Chức năng của gan, và virus viêm gan C ảnh hưởng đến gan như thế nào? Gan là một trong những cơ quan lớn nhất và quan trọng nhất trong cơ thể. Gan nằm dưới khung sườn bên phải, phía trên dạ dày

– Biểu hiện của bệnh viêm gan C

Thường thì không có dấu hiệu nào nhận biết cụ thể bệnh viêm gan C, đa số các bệnh viêm gan (80%) không có bất kỳ một dấu hiệu, triệu chứng bất thường bên ngoài. Các triệu chứng nếu có thường là: sốt, vàng da-niêm mạc, vàng mắt, tiểu sậm, chán ăn, khó tiêu, đau tức vùng nạ sườn phải, men gan gia tăng…Tuy nhiên các triệu chứng này vẫn có thể gặp trong các bệnh lý thuộc hệ gan, mật nói chung (viêm gan do rượu, viêm gan do thuốc, sỏi đường mật…). Chỉ có xét nghiệm máu mới có thể xác định bạn có bị viêm gan siêu vi C hay không. Vì vậy chủ động xét nhiệm tầm soát bệnh viêm gan siêu vi C là cần thiết.

-Nguyên nhân nhiễm bệnh:

+ Bệnh viêm gan siêu vi C thường bị nhiễm khi truyền máu hay những chế phẩm của máu trước năm 1991, nhiễm bệnh khi tiếp xúc với máu của người nhiễm bệnh (sử dụng chung dao cạo râu, bàn chải đánh răng, băng vết thường…)

+ Sử dụng hay tái sử dụng những dụng cụ không được vô trùng cẩn thận trong những trường hợp:

Dùng chung kim tiêm hay ống chích, bị kim tiêm đâm phải, chữa răng, xăm mình, châm cứu, xỏ lổ tai…

+ Lây bệnh qua những hành vi tình dục có nguy cơ cao gây chảy máy, quan hệ lúc có kinh nguyệt.

+ Truyền từ mẹ sang con (hiếm gặp)

+ Có những trường hợp không rõ nguyên nhân truyền bệnh.

Đối tượng dễ mắc viêm gan C

Do bệnh viêm gan C cũng là một bệnh truyền nhiễm từ những người nhiễm bệnh sang cho người bệnh chưa mắc bệnh, hơn nữa, việc phòng bệnh viêm gan C cũng rất khó khăn do viêm gan C hiện nay vẫn chưa có vaccine để phòng ngừa bệnh nên việc lây nhiễm bệnh rất dễ dàng ở những đối tượng người bệnh như:

Đối tượng tiêm chích may túy

  • Nhân viên y tế hay những người làm các công việc phải tiếp xúc với kim tiêm, dịch nhầy có máu nhiễm virus viêm gan C
  • Từng trải qua các thủ thuật y tế
  • Khám chữa răng với dụng cụ không tiệt trùng
  • Châm cứu, xăm da, các thủ thuật thẩm mỹ
  • Có mẹ nhiễm virus viêm gan C
  • Tình dục không an toàn
  • Người bị nhiễm HIV

-Viêm gan siêu vi C có dẫn tới tử vong không?

Viêm gan siêu vi C thường tiến triển chậm và thầm lặng, từ lúc nhiễm bệnh đến khi phát hiện có khi trên 30 năm. Bệnh có thể tiến triển sang xơ gan và ung thư gan thường ở độ tuổi trên 50 tuổi. Do vậy bệnh gây tử vong do các biến chứng của xơ gan và ung thư gan.

Một điều đáng tiếc là viêm gan siêu vi C chưa có thuốc tiêm ngừa vì siêu vi thường xuyên bị biến đổi nên cơ thể khó có thể tạo ra kháng thể thích hợp khi chủng ngừa. Biện pháp phòng ngừa chủ yếu là hạn chế tiếp xúc với máu và các dịch tiết của bệnh nhân, không sử dụng chung kim tiêm và các dụng cụ cá nhân có thể gây trầy xước da, sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục cũng tương tự như cách phòng ngừa nhiễm HIV.

-Tỉ lệ điều trị khỏi bệnh viêm gan C là bao nhiêu %?

Bệnh viêm gan siêu vi C khi được điều trị với thuốc kháng siêu vi theo phác đồ chuẩn (thuốc Peg-Interferon+Ribavirin) thì có thể trên 60% bệnh nhân đạt đáp ứng siêu vi bền vững (SVR), tiêu chuẩn coi như khỏi bệnh.

Nếu không được phát hiện và điều trị sớm, khoảng 17% trường hợp bị viêm gan siêu vi C có thể diễn biến đến xơ gan, 4% sẽ xơ gan nặng và ung thư gan.

Hiện nay, chỉ sử dụng các thuốc kháng siêu vi thì mới mong đạt được hiệu quả trong điều trị. Tại Việt Nam, điều trị theo phác đồ chuẩn như trên chứng tỏ có nhiều hiệu quả tích cực trong điều trị.

Ngoài ra, Việc điều trị viêm gan C có tỷ lệ thành công thay đổi tùy theo nhiều yếu tố vừa liên quan đến siêu vi lẫn với bệnh nhân. Những trường hợp điều trị khó khăn có thể do nhiễm siêu vi C thuộc genotype 1, 4, 6, hoặc tải lượng virut khá cao (trên 2 triệu copies/ml).

Về phía bệnh nhân, những điều kiện dễ gây thất bại cho điều trị là khi bệnh nhân lớn tuổi, béo phì, nhiễm thêm siêu vi B hoặc HIV, đã bị xơ gan hoặc cơ thể bệnh nhân mang đột biến trên gen IL28B. Như vậy trước khi điều trị, bệnh nhân cần được khám và làm các xét nghiệm cần thiết để tiên lượng khả năng thành công hay thất bại khi điều trị.

-Sau khi điều trị viêm gan C, lịch kiểm tra định kỳ được thực hiện như thế nào?

Sau khi điều trị viêm gan C cần kiểm tra lại sau 6 tháng xét nghiệm HCV-RNA để đánh giá hiệu quả điều trị có ổn định hay không?

Sau 1 năm làm lại xét nghiệm này vẫn còn âm tính, bệnh nhân được xem như là đã khỏi bệnh. Nếu vì lý do nào mà phải ngưng điều trị sớm (tháng thứ 4) thì khả năng tái phát rất cao và có thể gặp thất bại trong các lần điều trị sau. Vì vậy bệnh nhân cần tuân thủ đúng theo chỉ định và thời gian điều trị do thầy thuốc quyết định.

Cách điều trị và phòng ngừa bệnh viêm gan C

Điều trị viêm gan C bằng thuốc: sử dụng các thuốc đặc hiệu để loại bỏ virus, đưa chúng về ngưỡng cho phép, cải thiện và bình thường hóa xét nghiệm về gan và mô học, ngăn ngừa bệnh phát triển thành xơ gan và ung thư gan, giúp bệnh nhân kéo dài thời gian sống và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người bệnh.

Điều trị viêm gan C không dùng thuốc: kết hợp cân bằng, hợp lý giữa chế độ ăn uống, dinh dưỡng và chế độ vận động – nghỉ ngơi.

Biện pháp rẻ nhất, hiệu quả nhất để chống lại bệnh này đó là phòng ngừa: Nói không với tiêm chích ma túy; nói không với tình dục bừa bãi và nói không với truyền máu không an toàn. Đừng để nhiễm bệnh rồi điều trị, tức là “mất bò mới lo làm chuồng” thì thực sự rất tốn kém.

Leave a Reply