Kiến thức phòng bệnh, chữa bệnh, các bài thuốc dân gian.
Thông tin sức khỏe

Tổng quan về chứng tăng động giảm chú ý ở trẻ em và cách chăm sóc trẻ

Tăng động giảm chú ý ở trẻ (ADHD) là một chứng bệnh tâm lý thường gặp ở một số trẻ em có biểu hiện hiếu động hơn bình thường, theo các nghiên cứu mới nhất thường bệnh có liên quan tới di truyền. Các bậc cha mẹ cần trang bị kiến thức để phát hiện bệnh sớm ở trẻ nhằm có hướng chăm sóc trẻ phù hợp.

1. Tăng động giảm chú ý ở trẻ em là một rối loạn có tính chất tâm lý thường gặp ở trẻ em, khởi phát sớm và kéo dài với các biểu hiện như: hoạt động quá mức, khó kiểm soát hành vi, kém khả năng tập trung chú ý gây nhiều khó khăn trong sinh hoạt, học tập và trong các mối quan hệ xã hội. Trẻ không tập trung & hiếu động thường được chẩn đoán phát hiện ở lứa tuổi 4-6 tuổi, và bé trai bị nhiều hơn bé gái gấp 4-10 lần. Tuy nhiên, sau này tỉ lệ rối loạn này ở bé gái cũng tăng rõ rệt.

ADHD thường xuất hiện sớm trong quá trình phát triển của trẻ (thông thường là trong 5 năm đầu tiên của cuộc đời). Mức độ thay đổi theo từng cá nhân, nhưng có khuynh hướng giảm dần (ít nhất là trên vấn đề vận động) vào tuổi thiếu niên.

tổng quan về chứng tăng động giảm chú ý 1

2. Chứng tăng động giảm chú ý được phân loại như thế nào?

Sổ thống kê và chẩn đoán DSM-IV của Hiệp hội Tâm lý Thần kinh Hoa Kỳ phân chia chứng Tăng động giảm chú ý thành 3 nhóm chính:

Rối loạn tăng động giảm chú ý – Dạng phối hợp : Phân nhóm này được chẩn đoán nếu có ít nhất 6 triệu chứng giảm chú ý và ít nhất 6 triệu chứng tăng động bồng bột tồn tại trong một thời gian ít nhất là 6 tháng. Hầu hết những trẻ em và thiếu niên có rối loạn này đều thuộc dạng phối hợp.

Rối loạn tăng động giảm chú ý – Dạng trội về giảm chú ý: Phân nhóm này được chẩn đoán khi có ít nhất 6 triệu chứng giảm chú ý (nhưng có ít hơn 6 triệu chứng về tăng động bồng bột) tồn tại trong một thời gian ít nhất là 6 tháng.

Rối loạn tăng động giảm chú ý – Dạng trội về tăng động bồng bột: Phân nhóm này được chẩn đoán khi có ít nhất 6 triệu chứng về tăng động bồng bột (nhưng có chưa đến 6 triệu chứng về giảm chú ý) tồn tại trong thời gian ít nhất là 6 tháng.

3. Những dấu hiệu để nhận biết trẻ Tăng động giảm chú ý gồm những gì ?

Những đặc điểm lâm sàng để nhận biết trẻ Tăng động giảm chú ý:

Sự hoạt động thái quá: Trẻ hoạt động liên tục, múa tay chân, chạy nhảy leo trèo, không ngồi yên một chỗ, thường xuyên chuyển từ hoạt động này sang hoạt động khác…

Sự tập trung chú ý kém: Khó khăn trong việc duy trì khả năng chú ý trong học tập, làm việc, sinh hoạt hàng ngày và ngay trong lúc vui chơi. Trẻ thường không lắng nghe khi người khác nói chuyện trực tiếp hoặc đưa ra câu trả lời trước khi nghe hết câu hỏi; không thể hoàn thành bài tập ở trường và ở nhà; dễ dàng bị phân tâm bởi các kích thích xung quanh; hay để quên và làm thất lạc đồ đạc.

Phối hợp, kiểm soát động tác kém: Trẻ hoạt động mang tính chất xung động tức thì, thường hay gây ồn ào, làm phiền người khác quá mức.

Những rối loạn hành vi khác đi kèm theo như: rối loạn giấc ngủ (thường là trẻ rất khó đi vào giấc ngủ), rối loạn lo âu…Các rối loạn này có thể nhiều hay ít tùy thuộc vào từng trẻ và môi trường xung quanh tác động đến trẻ. Các rối loạn nêu trên xảy ra ở mọi nơi (ở nhà, trường học, bệnh viện, nơi công cộng…), trong mọi hoàn cảnh, trong tất cả các mối quan hệ trong khoảng thời gian kéo dài ít nhất 6 tháng.

4. Đâu là tiêu chuẩn khoa học để chẩn đoán tình trạng rối loạn tăng động giảm chú ý ở trẻ?

Tiêu chuẩn chẩn đoán theo DSM-IV:

A.Có tiêu chuẩn (1) hoặc (2):

(1) Trong số các triệu chứng giảm chú ý sau đây, có ít nhất 6 triệu chứng tồn tại trong thời gian ít nhất là 6 tháng, đến độ không thích nghi và không phù hợp với trình độ phát triển:

(a) Thường không thể tập trung chú ý nhiều vào các chi tiết hoặc phạm phải những lỗi lầm do bất cẩn trong học tập, làm việc hoặc trong các hoạt động khác.

(b) Thường khó khăn trong việc duy trì khả năng chú ý trong công việc hoặc trong vui chơi.

(c) Thường có vẻ không lắng nghe người khác nói chuyện trực tiếp.

(d) Thường không tuân theo những hướng dẫn hoặc không thể hoàn tất bài vở ở trường, công việc nhà, hoặc các trách nhiệm nơi làm việc (không phải do hành vi chống đối hoặc không có khả năng hiểu những hướng dẫn).

(e) Thường khó khăn khi tổ chức các công việc và các hoạt động.

(f) Thường né tránh, không thích, hoặc miễn cưỡng tham gia các công việc đòi hỏi sự cố gắng tinh thần liên tục (như làm bài tập ở trường hoặc bài tập về nhà).

(g) Thường để thất lạc những vật dụng cần để làm việc hoặc vui chơi (đồ chơi, dụng cụ học tập, bút chì, sách vở, và các dụng cụ).

(h) Thường dễ dàng bị chia trí bởi các kích thích bên ngoài; (i) Thường quên làm các công việc hằng ngày.

(2) Trong số các triệu chứng tăng động – bồng bột sau đây, có ít nhất 6 triệu chứng tồn tại trong thời gian ít nhất là 6 tháng, đến độ không thích nghi và không phù hợp với trình độ phát triển:

Tăng động

(a) Tay chân ngọ nguậy, ngồi không yên.

(b) Thường rời bỏ chỗ ngồi trong lớp học hoặc trong các tình huống đòi hỏi phải ngồi yên.

(c) Thường chạy nhảy hoặc leo trèo quá mức trong những tình huống không thích hợp (ở thiếu niên và người lớn, điều này có thể giới hạn ở mức đương sự có cảm giác bồn chồn chủ quan).

(d) Thường khó tham gia những trò chơi hoặc hoạt động giải trí cần phải giữ yên lặng.

(e) Thường luôn di chuyển hoặc hành động như thể “đang lái môtô”.

(f) Thường nói quá nhiều.

Bồng bột

(a) Thường buột miệng trả lời khi người khác chưa hỏi xong.

(b) Thường khó chờ đợi đến phiên mình.

(c) Thường làm gián đoạn hoặc quấy rầy người khác (xen vào các cuộc nói chuyện hoặc các trò chơi).

B.Một số triệu chứng tăng động – bồng bột hoặc triệu chứng giảm chú ý gây ra suy giảm chức năng được thấy hiện diện trước 7 tuổi.

C.Tình trạng giảm chức năng do các triệu chứng này được thấy hiện diện trong ít nhất 2 môi trường khác nhau (ở trường, ở nơi làm việc, hoặc ở nhà).

D.Phải có bằng chứng rõ ràng về tình trạng suy giảm chức năng đáng kể về lâm sàng trong hoạt động xã hội, học tập hoặc nghề nghiệp.

E.Nhữngtriệu chứng không phải chỉ có xảy ra trong rối loạn phát triển lan tỏa, Tâm thần phân liệt hoặc trong Rối loạn tâm thần khác và chúng không được giải thích rõ bởi một rối loạn tâm thần khác.

5. Nguyên nhân của hội chứng tăng động giảm chú ý là gì?

ADHD là một trong những hội chứng mắc phải từ thời thơ ấu được nghiên cứu nhiều nhất. Tuy nhiên, cho đến nay người ta vẫn chưa xác định rõ ràng được nguyên nhân.Có thể xếp các nguyên nhân được tìm thấy hiện nay vào 3 nhóm nguyên nhân chính:

Nguyên nhân thực thể:

Tiếp xúc với một số độc chất trong thời kỳ mang thai: như thuốc lá, rượu, ma túy, vì những chất này làm giảm sản xuất dopamine ở trẻ em hoặc các độc chất trong môi trường như dioxine, hydrocarbure benzen…cũng làm tăng nguy cơ trẻ sinh ra bị hiếu động, kém tập trung.

Tai biến lúc sanh: như sanh non tháng, thiếu oxi lúc sanh( bị ngạt) làm ảnh hưởng đến sự phát triển trí não của trẻ.

Do di truyền: đa số những trẻ em mắc chứng không tập trung-hiếu động thì trong gia đình của chúng có ít nhất một thành viên mắc chứng này. Hơn nữa, 1/3 số người đàn ông bị chứng hiếu động-thiếu tập trung khi còn nhỏ, thì con họ sau này cũng mắc phải chứng này.

Nguyên nhân tâm lý: Lo lắng, rối loạn tâm thần, bị cưỡng bức, lạm dụng tình dục, gặp khó khăn trong học tập, lục đục trong gia đình.

Các nguyên nhân khác: như chấn thương đầu, nhiễm trùng hệ thần kinh trung ương, trẻ ngủ hay ngáy, hoặc có rối loạn giấc ngủ (ngủ nhiều quá hoặc khó ngủ)…

6. Chứng tăng động giảm chú ý này về lâu dài có gây nguy hại gì không?

Thường những trẻ em mắc chứng không tập trung hiếu động lại mắc những chứng khác như:

Trầm cảm: người lớn và trẻ em đều bị như nhau, nhất là những gia đình có nhiều người mắc chứng này.

Thiếu tự tin: : làm cho trẻ khó thích nghi với môi trường sống và học đường.

Hội chứng Tourette: đó là những rối loạn thần kinh, biểu hiện bằng tật giật cơ, với những cử động không tự ý .

Rối lọan lo âu: lo lắng và nóng nảy kèm theo nhịp tim nhanh, thở nhanh, chóng mặt…

Gặp rắc rối trong học tập: 20% trẻ mắc chứng không tập trung- hiếu động cần phải có chế độ giáo dục đặc biệt.

tổng quan về chứng tăng động giảm chú ý 2

7. Phòng ngừa bệnh tăng động cho trẻ bằng cách nào?

Vì nguyên nhân gây ra chứng này vẫn chưa rõ ràng, cho nên rất khó có thể phòng ngừa được. Tuy nhiên, trong mọi trường hợp nên phòng tránh không cho trẻ bị chấn thương vào đầu hay bị nhiễm trùng thần kinh trung ương và không cho trẻ tiếp xúc với kim loại nặng (chì). Mặt khác, người mẹ khi mang thai cần phải chú ý không được hút thuốc, uống rượu hay dùng chất ma túy, nếu được, càng tránh tiếp xúc với những chất độc trong môi trường càng tốt.

8. Trẻ Tăng động giảm chú ý có thể được hỗ trợ như thế nào?

Các biện pháp trị liệu cơ bản:

Điều trị bằng chế độ ăn uống: Nên cho trẻ ăn những thức ăn nào mà ít gây ra dị ứng, có thể cải thiện được sự tập trung chú ý của trẻ. Nên tránh những loại thức ăn sau: Sữa & các sản phẩm từ sữa, lúa mì, bắp, đậu nành, trứng, sô-cô-la, đậu phộng; các lọai thực phẩm có thêm phụ gia nhằm ổn định thực phẩm, hóa chất và phẩm màu, cam, quít.

Dùng thuốc: Khi đã chẩn đoán xác định bệnh, bác sĩ sẽ cho dùng thuốc methylphenidate (Ritalin®), thuốc này giúp kích thích hệ thần kinh trung ương làm cải thiện khả năng tập trung của trẻ. Thường không dùng thuốc này cho trẻ trước tuổi đi học. Liều dùng từ 20-60 mg mỗi ngày, và thuốc sẽ có tác dụng trong vòng 30 phút. Dùng thuốc này có thể gây ra những thay đổi về thói quen ăn uống của trẻ. Nên tôn trọng những thay đổi này, tránh ép trẻ ăn khi không đói, hoặc không nên từ chối cho trẻ ăn khi trẻ đòi ăn. Sau khi điều trị bằng thuốc này khoảng 4 tuần trẻ sẽ tập trung và trầm tĩnh hơn, kết quả học tập trong lớp tốt hơn. Hiệu quả của thuốc khi dùng lâu dài vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ. Tác dụng phụ khi uống thuốc này là nhức đầu, ăn uống không ngon miệng, mất ngủ, đái dầm, bứt rứt, trầm cảm và hại cho gan.. Ngoài ra còn có thuốc atomoxetine( Strattera ® ) được FDA của Mỹ công nhận, cũng có hiệu quả như Ritalin nhưng ít tác dụng phụ hơn. Đây là điều nên hết sức cân nhắc khi áp dụng.

Tâm lý trị liệu

Một số trẻ em bị chứng không tập trung hiếu động sẽ hết đi khi trẻ lớn lên, một số khác thì chứng này có thể tồn tại suốt đời. Tuy nhiên, nhờ vào các phương pháp điều trị giúp kiểm soát được chứng bệnh này, và người bệnh có được cuộc sống bình thường. Các biện pháp điều trị này bao gồm: tâm lý trị liệu, hỗ trợ từ phía gia đình, nhóm hỗ trợ, cha mẹ trẻ nên có kiến thức để giúp đỡ những trẻ hiếu động. Cách tốt nhất là phối hợp giữa cha mẹ, thầy cô giáo, bác sĩ và nhà tâm lý trong việc điều trị cho trẻ:

Vì trẻ em hiếu động thường gặp phải những vấn đề về tập trung chú ý, vì vậy các bậc cha mẹ và thầy cô giáo cần phải diễn đạt một cách rõ ràng để cho trẻ dễ tiếp thu trong học tập và phải đảm bảo là trẻ hoàn thành tốt nhiệm vụ. Trẻ hiếu động rất dễ bị phân tán do đó tốt hơn là nên giao cho trẻ những công việc đơn giản. Nếu như công việc hay trò chơi có tính phức tạp, thì nên phân chia ra thành từng giai đoạn để trẻ dễ hiểu và dễ thực hiện.

Trẻ hiếu động đặc biệt rất nhạy cảm với những kích thích từ môi trường bên ngoài. Do đó cần phải tổ chức thành nhóm hoặc giao công việc dạy dỗ trẻ cho những người có tính kiên nhẫn và biết hoạt náo. Khi chú ý xem tivi cũng vậy, những hình ảnh xáo động và những bài nói chuyện trên tivi dễ ảnh hưởng đến sự tập trung của trẻ. Dó đó cần phải tránh.

Khi làm bài tập ở trường hay những công việc khác, cần bố trí cho trẻ nơi yên tĩnh để không làm cho trẻ bị phân tán.

Trẻ nên cho ngủ đầy đủ: tối thiểu từ 8-9 tiếng mỗi ngày, và ban ngày nên cho trẻ ngủ trưa.

Vì trẻ hiếu động đòi hỏi thầy cô giáo phải biết kiên nhẫn và nhẹ nhàng. Không nên la mắng trẻ. Điều quan trọng là người giáo dục trẻ nên biết được những mặt hạn chế cũng như nhu cầu của trẻ để đưa ra biện pháp giáo dục trẻ một cách thích hợp.

Trẻ hiếu động thường không biết nguy hiểm là gì. Chính vì vậy mà người dạy trẻ cần phải theo dõi trẻ sát sao hơn bình thường. Khi bạn cần tìm một người giữ trẻ như thế, bạn nên chọn người có kinh nghiệm và có kỹ năng nhằm tránh những rủi ro có thể xảy ra cho trẻ.

Dùng bạo lực, la hét hay đánh đập trẻ thường không mang lại lợi ích gì mà lại làm cho trẻ bị ”lờn mặt” đi. Lúc này tốt hơn là nên yêu cầu trẻ vào phòng đóng cửa lại là vừa. Cách giải quyết này cũng làm cho bạn và trẻ lấy lại bình tĩnh.

La mắng hay quở trách sẽ gây thêm rối loạn hành vi của trẻ. Trẻ hiếu động thường gặp phải vấn đề trầm trọng về khả năng tự tin của chúng. Điều quan trọng là làm thế nào để chỉ ra cho trẻ điều đó để chúng trở nên tốt hơn, chứ không nên nhắc đi nhắc lại về những sai lầm mà trẻ mắc phải. Hãy rộng lượng và khuyến khích trẻ!

Các biện pháp khác:

Xoa bóp(massage): xoa bóp đặc biệt có lợi giúp thư giãn đối với những thanh thiếu niên bị chứng rối loạn không tập trung-hiếu động. Trẻ được điều trị bằng phương pháp mát-xa thư giản giúp trẻ trầm tĩnh hơn, ngủ ngon hơn, tránh được những cơn ác mộng khi ngủ, cải thiện được hành vi, biết lắng nghe, vâng lời cha mẹ hơn

Phương pháp Tomatis: nguyên tắc của phương pháp này là dùng âm nhạc để điều trị cho trẻ mắc chứng rối loạn không tập trung và hiếu động, được khởi xướng bởi một bác sĩ người Pháp tên Alfred A. Tomatis. Theo ông, đây là một phướng pháp cho kết quả rất tốt. Chính âm nhạc làm cải thiện khả năng nghe của trẻ, bằng cách kích thích não bộ giúp trẻ tập trung vào âm thanh mà không bị phân tán. Vì vậy, người ta thường cho trẻ nghe nhạc Mozart, hòa tấu, thậm chí nghe giọng nói của người mẹ.

Phương pháp Tâm vận động: Phương pháp này đòi hỏi một số trang bị về phòng ốc, các dụng cụ giáo dục đặc biệt và những kiến thức chuyên môn. Ở Pháp, Tâm vận động (Psychomotricité) là một chuyên ngành của trị liệu tâm lý, các chuyên viên tâm vận động được đào tạo với kỹ năng và kiến thức chuyên môn để có thể trị liệu cho từng độ tuổi khác nhau.

Trẻ tăng động giảm chú ý nên ăn gì?

Trong những năm gần đây, chế độ ăn được cho thấy có liên quan đến chứng rối loạn tăng động giảm tập trung và có thể góp phần trong việc phòng chống bệnh này.

Lưu ý là không chỉ có chế độ ăn hiện tại của trẻ thiếu hụt các chất dinh dưỡng cần thiết mà chế độ ăn của mẹ trong giai đoạn mang thai và giai đoạn cho con bú cũng bị thiếu hụt, ảnh hưởng đến nguy cơ rối loạn tăng động giảm tập trung ở trẻ.

Tránh thiếu sắt, kẽm

Thiếu hụt các khoáng chất này thường xảy ra ở trẻ sinh non tháng, nhẹ cân, suy dinh dưỡng bào thai; mẹ mang thai dày, đa thai, thai trước bị sẩy; mẹ bị thiếu máu trước khi mang thai, mẹ biếng ăn do nghén, suy dinh dưỡng ở phụ nữ trước khi mang thai, trẻ biếng ăn, chỉ uống sữa nhiều mà không chịu ăn. Trẻ có thể thiếu sắt tương đối do nhu cầu sắt tăng cao ở trẻ bình thường dưới 5 tuổi.

Ngoài chức năng tạo máu của sắt, sắt và kẽm còn là tiền chất của hơn vài trăm enzym trong cơ thể. Các khoáng chất này đóng vai trò quan trọng trong phát triển hệ thần kinh và trí tuệ của trẻ. Thiếu hụt các khoáng chất này không chỉ liên quan đến rối loạn tăng động giảm tập trung mà còn làm giảm trí thông minh của trẻ.

Sắt và kẽm có nhiều trong thực phẩm động vật, đặc biệt là thịt đỏ như thịt heo, bò, gan, cật… Nên cho trẻ ăn đa dạng thực phẩm trong tuần kết hợp với thực phẩm giàu vitamin C trong rau, trái cây để hấp thu tốt sắt và kẽm.

Phụ huynh có thể tham khảo ý kiến bác sĩ để bổ sung các khoáng chất này ở các trường hợp có nguy cơ thiếu hụt nêu trên hoặc ở các gia đình cho trẻ ăn chay. Bên cạnh đó, thiếu hụt iốt cũng được chứng minh liên quan đến nguy cơ rối loạn tăng động giảm tập trung nên cần dùng muối có bổ sung iốt.

Ăn đủ axit béo

Các axitbéo chuỗi dài nhiều nối đôi bao gồm axit béo omega 3 và omega 6. Đây là những chất cần thiết cho quá trình phát triển của não bộ. Chất này cần thiết trong chế độ ăn của phụ nữ mang thai, cho con bú và của trẻ nhỏ. Các chất này có nhiều trong các loại cá biển, các loại đậu hạt và dầu thực vật.

Các axit béo omega 3, omega 6 cũng có thể được bổ sung dưới dạng thuốc khi cần và có chỉ định của bác sĩ.

Hạn chế đường đơn, tăng cường tinh bột

Tiêu thụ nhiều đường đơn có trong bánh ngọt, kẹo, nước ngọt và các loại nước giải khát có đường liên quan nguy cơ rối loạn tăng động giảm tập trung ở trẻ. Bên cạnh đó, tiêu thụ nhiều đường đơn cũng làm gia tăng nguy cơ hạ đường huyết nhanh chóng ở trẻ do kích hoạt gia tăng nội tiết tố insulin. Hạ đường huyết sau khi dùng đường đơn làm thiếu hụt glucose – nguyên liệu chính cho não hoạt động – khiến ảnh hưởng đến hoạt động của não bộ.

Do đó trẻ cần ăn tinh bột hơn đường đơn. Ăn đầy đủ rau, quả giúp đường hấp thu chậm vào máu giúp ổn định lượng đường huyết lâu bền. Các thực phẩm có chỉ số đường huyết trung bình và thấp, giúp duy trì nồng độ glucose lâu bền cho não hoạt động gồm: cơm gạo lứt là loại không chà trắng, bún, bánh ướt…

Tránh phụ gia thực phẩm và thực phẩm nguy cơ dị ứng cao

Các phụ gia thực phẩm, nhất là loại tạo màu cho thực phẩm và các chất giúp bảo quản thực phẩm có thể làm gia tăng nguy cơ rối loạn tăng động giảm tập trung, do đó cần hạn chế nếu có thể ở những trẻ đã mắc bệnh này. Khi cần thiết, cha mẹ nên loại trừ những thực phẩm có nguy cơ gây dị ứng cao trong thực đơn của trẻ.

Tự kỷ và rối loạn tăng động giảm chú ý

Một số bậc phụ huynh đưa trẻ đến khám ở chỗ chúng tôi nói rằng họ đang cho con họ theo học ở một lớp dành cho trẻ tự kỷ. Khi tôi hỏi “Tại sao chị nghĩ con chị bị tự kỷ”? Phụ huynh này trả lời “Tôi đọc trên báo và so sánh với cháu, thấy cháu có rất nhiều biểu hiện của tự kỷ như: không nhìn mắt, chậm nói, có những hành vi kỳ dị, bất thường v.v. nên nghĩ cháu bị tự kỷ”

Thực tế thì những biểu hiện riêng lẻ đó có ở một số tình trạng khác chứ không chỉ ở tự kỷ. Đó là rối loạn tăng động giảm chú ý và chậm phát triển trí tuệ. Tuy nhiên, trong bài này, tôi chỉ đề cập đến tự kỷ và rối loạn tăng động giảm chú ý.

Biểu hiện đầu tiên mà những người mới vào nghề hoặc không làm về lâm sàng thường thường nhầm lẫn, đó là: trẻ “không nhìn vào mắt người đối thoại”.

Có nhiều lý do khiến khi giao tiếp trẻ không nhìn vào mắt người đối thoại. Trẻ bình thường không nhìn vào mắt người lạ vì trẻ ít tiếp xúc với các quan hệ xã hội và thấy xấu hổ khi nhìn vào mắt người lạ. Trên thực tế, trẻ vẫn nhìn vào mắt người nhà hoặc người quen.

Nếu không có kinh nghiệm, người khám có thể nhầm lẫn là triệu chứng bệnh lý. Trẻ rối loạn tăng động giảm chú ý không nhìn vào mắt người đối thoại vì trẻ không chú ý vào lời nói của người đối thoại. Trẻ đang mải chú ý đến những tác động khác ở xung quanh hấp dẫn hơn.

Trên thực tế, trẻ rối loạn tăng động giảm chú ý vẫn nhìn vào mắt người đối thoại nếu giao tiếp với người này hấp dẫn và làm trẻ chú ý. Tuy nhiên, những người mới vào nghề hoặc không có kinh nghiệm khai thác triệu chứng có thể bỏ qua chi tiết này.

Trẻ tự kỷ thì giảm rõ rệt việc sử dụng hành vi phi ngôn ngữ (không chỉ có ánh mắt, mà còn là cử chỉ và điệu bộ) để điều hòa các mối quan hệ xã hội. Hơn nữa, việc giảm sử dụng ánh mắt trong giao tiếp không chỉ ở một mối quan hệ hay một bối cảnh, mà là tất các các bối cảnh và mối quan hệ xã hội mà trẻ đang gia nhập.

Trẻ em học ngôn ngữ chủ yếu qua nghe người lớn nói và bắt chước theo. Trẻ rối loạn tăng động giảm chú ý cũng có thể chậm nói, hoặc nói/phát âm không rõ tiếng. Nhưng chậm nói của trẻ này chủ yếu là do trẻ không chú ý được đầy đủ vào lời nói của những người đối thoại nên không bắt chước được lời nói hoặc bắt chước không đầy đủ do vậy dẫn đến không học được lời nói của mọi người và kết quả là chậm biết nói hoặc nói không rõ ràng.

Trong lúc đó, trẻ tự kỷ chậm hoặc hoàn toàn không phát triển kỹ năng nói chủ yếu là do trẻ mất hoặc quá ít nhu cầu giao tiếp với người khác (trong đó có cả những người lớn mà đáng lẽ trẻ phải giao tiếp để học ngôn ngữ).

Trong giao tiếp, trẻ rối loạn tăng động giảm chú ý “dường như không nghe thấy những gì mà người khác nói với nó” dẫn đến việc: đôi khi trẻ không nghe tiếng ta gọi, ta nói hay đề nghị trẻ làm một việc gì đó. Tuy nhiên, đặc điểm này chủ yếu là do trẻ rối loạn tăng động giảm chú ý đang mải xao lãng với một kích thích mới lạ khác, chứ không phải là lời nói của người lớn lúc đó. Ngược lại, trẻ tự kỷ dường như không nghe thấy người lớn nói chuyện với nó chủ yếu là do trẻ mất hoặc quá ít nhu cầu giao tiếp xã hội với người khác.

Tương tự như vậy, trẻ rối loạn tăng động giảm chú ý không tạo được mối quan hệ bạn bè phù hợp với trình độ phát triển của trẻ chủ yếu là do: sự giảm chú ý của trẻ đến các quy tắc chơi trong các trò chơi với bạn cùng lứa dẫn đến việc trẻ phá vỡ các quy tắc của trò chơi và làm bạn bè cùng lứa không ưa thích, sau cùng là không tạo được quan hệ bạn bè.

Như vậy, nhu cầu giao tiếp, nhu cầu có bạn của trẻ rối loạn tăng động giảm chú ý là vẫn hiện diện. Trong lúc, trẻ tự kỷ không có mối quan hệ bạn bè phù hợp chủ yếu là do sự giảm thiểu quá thái nhu cầu giao tiếp xã hội và nhu cầu có bạn bè hoặc các quan hệ xã hội khác.

Những sự tinh tế như vậy trong lâm sàng đòi hỏi chúng ta phải hết sức thận trọng. Bởi lẽ, mỗi tình trạng lại có cách can thiệp lại hoàn toàn khác nhau. Ví dụ, trẻ tự kỷ, đặc biệt là trẻ tự kỷ có kèm theo chậm phát triển trí tuệ cần một sự dạy dỗ kiên trì vì nhận thức của trẻ rất chậm. Trong lúc đó, đa phần trẻ có rối loạn tăng động giảm chú ý thì nhận thức khá nhanh, thậm chí có chỉ số IQ khá cao, nhưng cần có biện pháp để trẻ tập trung chú ý.

Ở nước ngoài chỉ có những người làm chuyên khoa được phép đưa ra chẩn đoán rối loạn tăng động giảm chú ý hay tự kỷ.

Đặc biệt, để đưa ra một chẩn đoán tự kỷ, trẻ phải được nhập viện. Các quan sát theo dõi phải được tiến hành trong khoảng sáu tháng trước khi có một chẩn đoán tự kỷ. Điều này nói lên rằng, một chẩn đoán tự kỷ hay rối loạn tăng động giảm chú ý là một chẩn đoán rất khó và cần được làm một cách hết sức cẩn thận.

Một chẩn đoán được đưa ra, giống như một cái “mác”, cái “nhãn” dán cho trẻ, có thể kéo theo những ứng xử của cả cha mẹ và thầy cô giáo với trẻ khác đi. Nếu một chẩn đoán sai, kéo theo hệ lụy các quan hệ bị thay đổi có thể làm nhân cách của trẻ phát triển theo một hướng khác, không có lợi cho trẻ.

Như vậy, điều quan trọng là cần cẩn trọng khi chẩn đoán và các bậc phụ huynh nhất thiết không được tự ý chẩn đoán mà phải đem đến các nhà chuyên môn để làm chẩn đoán cho trẻ.

Xem thêm các bài viết khác thuộc chủ đề: trẻ bị tăng động giảm chú ý
Leave a Reply