Kiến thức phòng bệnh, chữa bệnh, các bài thuốc dân gian.
Thông tin sức khỏe

Tìm hiểu về huyết áp thấp và những biến chứng nguy hiểm của huyết áp thấp

Ngoài huyết áp cao, huyết áp thấp cũng là 1 bệnh tiềm ẩn nguy hiểm cho người bệnh mắc phải. Bài viết này nhằm trang bị kiến thức tổng quan cho mọi người về bệnh huyết áp thấp, mời các bạn tham khảo.

Thế nào là huyết áp thấp?

So với mức huyết áp bình thường là 120/80mmHg, người bị huyết áp thấp thường có trị số huyết áp tối đa thấp hơn 100 mmHg, phổ biến là thấp hơn 90/60mmHg.

Ngoài phương pháp kiểm tra huyết áp bằng cách đo huyết áp bằng các máy đo huyết áp điện tử hoặc tới kiểm tra tại các trung tâm y tế, người bệnh cũng có thể theo dõi trị số huyết áp bằng các dấu hiệu cảnh báo từ sức khỏe. Nhiều người bệnh bị huyết áp thấp thường có chung những biểu hiện bên ngoài như mệt mỏi, buồn nôn, hoa mắt, chóng mặt, đau đầu nhất là khi họ phải thay đổi tư thế đột ngột.

huyết áp thấp 1

Những người có nguy cơ cao bị huyết áp thấp?

Dưới đây là một số người có nguy cơ bị huyết áp thấp:

Phụ nữ mang thai:
Phụ nữ mang thai không chỉ đối diện với nguy cơ huyết áp cao (người ta gọi là tăng huyết áp thai kỳ) mà còn phải đối diện với nguy cơ huyết áp thấp. Cụ thể trong khoảng 24 tuần đầu của thai kỳ, huyết áp tâm thu thường giảm năm đến 10 điểm và huyết áp tâm trương giảm nhiều từ 10 – 15 điểm. Điều này là hết sức bình thường, các trị số huyết áp có thể trở lại bình thường như trước thời kỳ mang thai sau khi người phụ nữ sinh con.

Người bị các vấn đề về tim: Một số bệnh nhân bị tim mạch có thể dẫn đến huyết áp thấp bao gồm nhịp tim rất thấp (nhịp tim chậm), các vấn đề van tim, đau tim và suy tim. Các điều kiện này có thể gây hạ huyết áp, vì ngăn chặn cơ thể có thể lưu thông máu đủ.

Người mắc các bệnh về nội tiết: Đó là những người có tuyến giáp kém, hoặc tuyến giáp hoạt động quá mức, cả 2 hiện tượng này có thể gây hạ huyết áp. Ngoài ra, một số người bị suy thượng thận (bệnh Addison), đường huyết thấp (hạ đường huyết) và trong một số trường hợp, bệnh tiểu đường có thể gây ra huyết áp thấp.

Người bị mất nước: Khi cơ thể bị mất nước, có thể dẫn đến tình trạng cơ thể yếu, chóng mặt và mệt mỏi. Sốt, nôn mửa, tiêu chảy nặng, lạm dụng thuốc lợi tiểu và tập luyện vất vả tất cả có thể dẫn đến mất nước.

Người bị mất máu: Mất máu do ảnh hưởng của vết thương lớn hoặc chảy máu nội bộ làm giảm lượng máu trong cơ thể, dẫn đến sự sụt giảm nghiêm trọng về huyết áp.

Người bị nhiễm trùng nặng: Nghiễm trùng trong cơ thể đi vào máu có thể dẫn đến hiện tượng nhiễm khuẩn huyết, từ đó có thể dẫn đến đe dọa mạng sống, huyết áp giảm được gọi là sốc nhiễm khuẩn.

Người bị dị ứng trầm trọng (hay còn gọi là sốc phản vệ). Sốc phản vệ là một phản ứng dị ứng nghiêm trọng, và có thể gây khó thở, nổi mề đay, ngứa, sưng cổ họng và hạ huyết áp.

Người bị thiếu chất dinh dưỡng trong chế độ ăn uống: Tình trạng thiếu các vitamin B – 12 và folate có thể gây ra thiếu máu, một tình trạng mà cơ thể không sản xuất đủ các tế bào máu đỏ, gây ra huyết áp thấp.

Người phải sử dụng thuốc điều trị gây huyết áp thấp: Một số loại thuốc có thể gây tác dụng phụ là giảm huyết áp như thuốc lợi tiểu (thuốc nước), alpha blockers, Beta blockers, Thuốc cho bệnh Parkinson, một số loại thuốc chống trầm cảm (thuốc chống trầm cảm ba vòng), Sildenafil (Viagra), đặc biệt kết hợp với một thuốc tim, nitroglycerine.

Người bị huyết áp thấp nên làm gì?

Về ăn uống, người bị huyết áp thấp nên lưu ý một số vấn đề sau:

Nên ăn mặn hơn người bình thường. Người huyết áp thấp nên ăn 10-15g mỗi ngày

Ăn nhiều chất dinh dưỡng. Đặc biệt với những người gầy, nên ăn uống đủ chất dinh dưỡng để cân nặng ổn định.

Bổ sung chất đạm như thịt, cá trong mỗi bữa ăn. Tăng cường trứng, đậu tương, tăng ăn rau và quả bổ sung vitamin, chất xơ và chất khoáng. Nên ăn nhiều bữa nhỏ để dễ tiêu, Uống các loại nước có tác dụng nâng huyết áp như trà sâm, trà gừng, trà đặc, cà phê.

Không nên dùng những thức ăn có tính lợi tiểu như rau cải, râu ngô, dưa hấu, bí ngô…

Về sinh hoạt, luyện tập người bị huyết áp thấp cũng nên lưu ý một số vấn đề sau:

Sinh hoạt điều độ, ngủ đủ giấc (khoảng 7 – 8 h mỗi ngày)

Sinh hoạt điều độ. Đêm phải ngủ đủ giấc (7-8 h / ngày). Người bị huyết áp thấp rất hay bị hoa mắt, chóng mặt khi thay đổi tư thế, nên khi ngồi dậy phải từ từ. Nằm ngủ nên để đầu thấp, chân cao.

Một số comment cho người bị huyết áp thấp là nên tắm nước nóng để tăng cường lưu thông máu nhưng đừng tắm quá lâu.

Người bệnh cũng nên giữ tinh thần lạc quan, vui vẻ, và nhất là bình tĩnh. Những xúc động quá mạnh như sợ hãi, lo lắng, buồn nản có thể làm huyết áp hạ thêm.

Về chế độ luyện tập, người bệnh nên tập thể dục thể thao dều đặn, mỗi ngày nên tập thể dục ít nhất 10-15 phút. Có thể bắt đầu từ những môn nhẹ như đi bộ, cầu lông, bóng bàn, rồi nặng hơn như chạy, bơi, tenis, điền kinh, cử tạ…Nên tránh các môn dễ gây chóng mặt như nhào lộn, nhảy đu ..

Những biến chứng nguy hiểm của huyết áp thấp

Nhiều nghiên cứu gần đây đã cảnh báo nhiều biến chứng nguy hiểm mà người bị huyết áp thấp có thể gặp phải. Đó cũng là hồi chuông cảnh báo để cộng đồng quan tâm hơn nữa đến căn bệnh này.

Những nguy cơ tiềm ẩn từ huyết áp thấp

Theo kết quả nghiên cứu từ Trung tâm Y học Đại học Columbia công bố trong Hội thảo của Hiệp hội Chứng tăng huyết áp Mỹ, những người bị huyết áp thấp có tỷ lệ tử vong cao.

Huyết áp được gọi là thấp khi các trị số huyết áp ở mức thấp hơn bình thường, cụ thể, trị số huyết áp tâm thu dưới 90mmHg hoặc giảm hơn 20mmHG so với trị số huyết áp bình thương trước đó. Bệnh nhân bị tụt huyết áp kéo dài, hệ thống thần kinh bị suy giảm chức năng, cơ thể không tự kịp điều chỉnh để cung cấp đủ dinh dưỡng và oxy cho não, tim, thận gây tổn thương các cơ quan này.

Chưa nói đến nếu không có các phương pháp chữa huyết áp thấp kịp thời có thể dẫn đến tình trạng đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim, suy thận …. thậm chí còn nguy hiểm đến tính mạng. Nhiều trường hợp bị huyết áp thấp có thể dẫn đến tới tai biến mạch máu não, trong đó phần lớn là nhồi máu não, tỷ lệ này chiếm khoảng 30%.

Ngoài ra, trường hợp ít gặp hơn, người bị tụt huyết áp cấp có thể gây sốc, đặc biệt nguy hiểm đến tính mạng trong những trường hợp như đang lái xe, làm việc trên tầng cao…

huyết áp thấp 2

Hạn chế các cơn đau đầu do huyết áp thấp

Cũng giống như huyết áp cao, huyết áp thấp không phải là một bệnh lý, trong đó người bị huyết áp thấp rất thường xuyên cảm thấy hoa mắt, chóng mặt, choáng váng, đau đầu, tức ngực, tinh thần mệt mỏi, mất ngủ hoặc ngủ không sâu giấc, có lúc thoáng ngất. Ngoài ra, người bị huyết áp thấp cũng rất dễ không tập trung, dễ nổi cáu , thỉnh thoảng còn xuất hiện cảm giác buồn nôn, nôn. Huyết áp thấp gặp nhiều ở nữ hơn nam giới, biện pháp hữu hiệu nhất để hạn chế các cơn đau đầu, mệt mỏi do huyết áp thấp là các phương pháp giúp mạch máu lưu thông tốt hơn. Dưới đây là một số phương pháp có thể áp dụng.

Tắm nóng lạnh dưới vòi hoa sen vào mỗi buổi sáng, có thể dùng khăn mềm massage toàn thân giúp mạch máu lưu thông tốt hơn.
Thực hiện một số bài tập thể dục buổi sáng đơn giản trong phòng thoáng khí.
Massage toàn thân bằng bàn chải khô 1 lần trong ngày.
Vào mỗi buổi chiều, có thể xả nước ở nhiệt độ 10-18 độ C vào bồn tắm (mực nước khoảng 20 cm) rồi đi lại trong bồn 1-3 phút, nhớ nhấc bàn chân lên hẳn trên mặt nước. Sau đó, lau khô bàn chân, mang tất len và đi lại trong phòng cho đến khi chân nóng lên.
Có thể sử dụng chè và cà phê đặc: Chè và cà phê có tác dụng làm tăng huyết áp nhưng bạn không nên lạm dụng. Lam dụng quá 3 tách/ngày, bạn sẽ bị mất ngủ và suy giảm thể lực.
Một số hợp chất thiên nhiên có tác dụng kích thích mạch máu được cho là tốt với người bị huyết áp thấp như là nước chanh , tinh chất hoa hồng, sâm. Bạn có thể mua nước cốt của một trong các chất trên tại hiệu thuốc và uống 2 lần/ngày, mỗi lần 20 giọt hòa vào 1/4 cốc nước. Uống trước các bữa ăn sáng và trưa khoảng 30 phút, liên tục trong 2-3 tuần, ngừng 1 tháng rồi tiếp tục.
Đi bộ hàng ngày, đều đặn và càng nhiều càng tốt, cố gắng luyện bơi lội và tập chạy. Các biện pháp này đều có lợi đối với mạch máu.
Cần có những giấc ngủ sâu, đẫy giấc và khắc phục chứng mất ngủ (nếu có) bằng mọi cách có thể.

Người bị huyết áp thấp nên duy trì các bữa ăn đầy đủ chất dinh dưỡng, có thể ăn nhẹ thêm một lần giữa bữa trưa và bữa tối. Có thể dùng bánh ngọt với nước chè, sữa chua hoặc 1 cốc sữa nóng. Khi đau ốm và cần dùng thuốc nên hỏi ý kiến bác sỹ để tránh dùng hoặc hạn chế các thuốc có tác dụng giảm huyết áp.

Huyết áp thấp vì sao?

Huyết áp thấp là khi huyết áp tối đa dưới 90mmHg, huyết áp tối thiểu dưới 50mmHg (< 90/50). Bệnh nhân ý thức lơ mơ hoặc mất hoàn toàn do thiếu oxy não. Nguyên nhân đôi khi chỉ do quá xúc động, như trông thấy tai nạn, chảy máu hoặc đau khi tiêm, nhổ răng. Huyết áp thấp đột biến: là tình trạng huyết áp đang bình thường hay cao từ trước, nay hạ xuống đột ngột (hạ chừng 30-40mmHg). Trường hợp này thường là do một bệnh lý. Hạ huyết áp đột ngột gây ra tình trạng suy tuần hoàn cấp. Huyết áp có thể rất thấp hoặc mất, mạch nhanh, nhỏ hoặc không bắt được. Ý thức lơ mơ hoặc mất hoàn toàn do thiếu oxy não.

Các mức độ suy tuần hoàn từ nhẹ đến nặng như sau:

– Choáng váng, xây xẩm, thoáng ngất, nằm xuống một lúc thấy đỡ.

– Ngất: xảy ra nhanh, mất ý thức, ngừng thở, ngừng tim rồi phục hồi nhanh chóng.

– Truỵ mạch: xảy ra đột ngột, ý thức lơ mơ, huyết áp hạ, mạch nhanh, nhỏ. Thường gặp ở các bệnh nhiễm trùng, nhiễm độc. Bệnh tim mạch giai đoạn nặng.

– Sốc: xảy ra từ từ, mạch nhanh, huyết áp hạ, trán vã mồ hôi.

– Chết đột ngột: là tình trạng không có huyết áp, không mạch. Không hồi phục mặc dù cấp cứu hồi sức tốt.

Nguyên nhân gây huyết áp thấp đột biến gồm:

Cường phó giao cảm: còn gọi là cường phế vị, người xanh xao, mệt mỏi, hay ngáp, nhịp tim chậm. Huyết áp hạ đột ngột xảy ra khi lo sợ, khi quá xúc động, như trông thấy tai nạn, chảy máu hoặc đau khi tiêm, khi nhổ răng…

Một số bệnh tim mạch: viêm cơ tim cấp, nhồi máu cơ tim, viêm tim toàn bộ… Nhồi máu cơ tim thường có cơn đau thắt ngực dữ dội hoặc có cảm giác nằng nặng trước ngực từ lâu, làm điện tâm đồ sẽ thấy có tổn thương điển hình.

Chảy máu cấp: do chấn thương vỡ tạng đặc biệt (gan, lách, thận) do xuất huyết nội như chảy máu dạ dày tá tràng, chảy máu do vỡ tĩnh mạch thực quản trong xơ gan, ho ra máu, vỡ thai ngoài dạ con…

Mất nước nhiều: do tiêu chảy, nôn liên tục.

Hạ đường huyết: do bị đói, dùng quá liều thuốc điều trị đái tháo đường. Bệnh nhân cảm thấy chân tay bủn rủn, chóng mặt, lờ đờ, buồn ngủ, trán vã mồ hôi.

Phản ứng thuốc hay sốc phản vệ: các loại kháng sinh penicilline, streptomycine, aspirin… Sốc có thể xảy ra tức thì hoặc muộn hơn vài giờ. Bệnh nhân thấy tê môi, người bứt rứt khó chịu, mắt có thể sưng húp, mạch nhanh. Không cấp cứu kịp thời có thể chết.

Sốc khi hút dịch: ở màng phổi, màng tim, màng bụng. Do hút tốc độ nhanh hoặc hút nhiều dịch trên bệnh nhân sẵn có cơ địa cường phế vị. Có khi chỉ mới chọc kim qua da, bệnh nhân đã thấy choáng váng, mặt tái nhợt, muốn nằm, vã mồ hôi trán, mạch nhanh.

Các trường hợp huyết áp hạ đột biến, cần xử trí rất khẩn trương để cứu sống người bệnh.

Huyết áp thấp liên tục: là huyết áp luôn luôn thấp hơn mức bình thường. Hiện tượng này thường gặp ở người có cơ địa huyết áp thấp và ở một số bệnh gây huyết áp thấp.

Huyết áp thấp liên tục có hai thể:

Huyết áp thấp tiên phát: do cơ địa hay do cấu tạo của cơ thể, thường xuyên có huyết áp thấp, nhưng không có trở ngại gì trong sinh hoạt. Loại này không có triệu chứng, không cần dùng thuốc điều trị, trừ trường hợp bị ngất, nhất là do lao động chân tay nặng.

Huyết áp thấp hậu phát: thường do một nguyên nhân nào đó gây ra. Bệnh nhân thấy mệt mỏi, thoáng ngất, ngón tay, ngón chân lạnh, có khi tím da. 8 nguyên nhân gây huyết áp thấp hậu phát gồm:

– Cơ thể suy mòn lâu ngày do ung thư, lao, đái tháo đường, xơ gan.

– Nhiễm trùng, nhiễm độc kéo dài.

– Thiếu máu mạn tính: Do giun móc, do các bệnh mạn tính.

– Suy tim: thường hạ huyết áp tối đa.

– Do uống thuốc điều trị huyết áp liều cao hay điều trị kéo dài. Cần kiểm tra huyết áp khi uống thuốc, nhất là loại thuốc methyldopa.

– Addison: suy vỏ thượng thận, sạm da, người mệt, chóng mỏi các cơ, không làm được các việc gắng sức.

– Bệnh suy giáp trạng: phù cứng, ấn lõm, mặt béo, môi dày, lưỡi to, các ngón chân, ngón tay cũng mập, chậm chạp, lười suy nghĩ. Huyết áp hạ, mạch nhỏ chậm.

– Do các bệnh thần kinh: Tabét, rỗng tủy sống…

Hạ huyết áp tư thế đứng: xảy ra khi đang nằm mà đứng dậy, huyết áp vẫn cố định hoặc giảm đi 10-20mmHg, còn huyết áp tối thiểu tăng lên. Người hạ huyết áp tư thế đứng là người có huyết áp bình thường, khi chuyển từ tư thế nằm sang tư thế đứng, huyết áp tối đa giảm quá 20mmHg và huyết áp tối thiểu bình thường hay hạ, tức là < 90mmHg/50mmHg. Triệu chứng: khi đứng dậy, huyết áp hạ, chóng mặt, người loạng choạng, muốn ngất, tim đập nhanh. Thể nặng thì ngất, ngã gục xuống. Nếu người bệnh được nằm thì sẽ hồi phục bình thường. Nguyên nhân: thường do dùng thuốc làm mất nước ngoài tế bào như dùng thuốc lợi tiểu, do chế độ ăn kiêng muối; Đang dùng thuốc hạ huyết áp, thuốc trầm cảm. Bị cắt đoạn thần kinh giao cảm thắt lưng, người giãn tĩnh mạch chi quá mức. Có thai, nhược cơ, thiếu máu… Hạ huyết áp thế đứng còn gặp ở người làm việc trong các ngành nghề phải đứng liên tục nhiều tiếng đồng hồ (đứng gác, đứng máy, làm tiếp viên).

Leave a Reply