Kiến thức phòng bệnh, chữa bệnh, các bài thuốc dân gian.
Thông tin sức khỏe

Polyp trực tràng có nguy hiểm không? Có phải là ung thư? Có nên cắt bỏ?

Polyp trực tràng là gì, và có phải polyp trực tràng là dấu hiệu báo hiệu ung thư không? là câu hỏi của rất nhiều bạn đọc. Ở Việt Nam thường không có thói quen khám bệnh sớm do đó đa số các ca bệnh ung thư đại trực tràng đều là do polyp xuất hiện và phát triển quá lâu trong đại trực tràng mà người bệnh không biết. Để tìm hiểu kỹ hơn về vấn đề này, mời các bạn cùng theo dõi.

Polyp trực tràng là gì?

Polyp trực tràng là những khối u lồi vào trong lòng trực tràng, chúng được hình thành do sự tăng sinh quá mức của niêm mạc trực tràng, là sự phì đại của biểu mô tuyến quanh một trục liên kết mạch ở trực tràng.

polyp trực tràng

Nguyên nhân gây ra polyp trực tràng

Nguyên nhân có thể do đột biến gen làm phát triển tế bào không bình thường tạo thành polyp, hoặc có thể do di truyền hoặc do viêm nhiễm niêm mạc trực tràng bởi vi khuẩn hoặc do ký sinh trùng. Có đến 90% số ca polyp trực tràng gặp ở những người từ 50 tuổi trở lên.

Bên cạnh đó, có khá nhiều yếu tố nguy cơ dẫn đễn mắc polyp trực tràng, đó là tuổi càng cao tỉ lệ gặp polyp trực tràng càng nhiều, nam gặp nhiều hơn nữ, các thói quen hút thuốc, nghiện rượu bia hoặc do chế độ ăn không hợp lý (ăn nhiều chất béo, ăn ít chất xơ, ăn nhiều loại thị có màu đỏ) hoặc do béo phì kèm theo lười hoặc ít vận động cơ thể hoặc trong cuộc sống đã từng mắc bệnh viêm trực tràng mạn tính. Một số trường hợp đã từng bị ung thư buồng trứng (nữ giới) hoặc đã từng cắt bỏ polyp, có thể có khả năng bị bệnh polyp trực tàng hoặc tái phát polyp trực tràng.

Trên một người có thể chỉ có 1 polyp đơn độc hoặc nhiều polyp nhưng riêng biệt. Nguy cơ thoái hóa trở thành ác tính của polyp trực tràng tùy thuộc vào kích thước của chúng. Nếu các polyp có đường kính không quá 5mm, ít có nguy cơ phát triển thành ung thư, nhưng khi polyp có đường kính trên 20mm, kéo dài khảng 10 năm, nguy cơ trở thành ung thư là rất lớn (chiếm tới 50%).

Triệu chứng của polyp trực tràng

Triệu chứng của bệnh thường nghèo nàn và không đặc hiệu. Đi ngoài phân có máu tươi là dấu hiệu thường gặp nhất. Vì vậy, đây là dấu hiệu có giá trị gợi ý chẩn đoán polyp trực tràng. Máu phủ ngoài mặt phân không trộn lẫn với phân (phân có khuôn). Khi polyp trực tràng có cuống tương đối dài có thể bị sa ra ngoài hậu môn khi đi ngoài; nếu polyp nhỏ, ở thấp gần hậu môn có thể tự lên hoặc dùng tay đẩy lên, tuy vậy, đôi khi bị tắc nghẽn trong hậu môn.

Những polyp đơn độc có thể là những khối u hoàn toàn lành tính và tồn tại trong nhiều năm mà không ảnh hưởng gì đến sức khỏe. Trong trường hợp đó, bệnh nhân không hề biết mình mắc bệnh. Tuy nhiên, vẫn có tiềm ẩn nguy cơ trở thành ung thư đại trực tràng sau này nếu nó lớn dần lên (kích thước to dần lên, vượt trên 5mm). Một đặc điểm cần lưu ý là những polyp có chân rộng, không có cuống, càng có nhiều polyp, khả năng hóa ác tính càng cao hơn những polyp có chân nhỏ hay cuống dài.

Trong trường hợp polyp trực tràng quá lớn, nhiều polyp hoặc có viêm loét bề mặt polyp, có thể gây đi cầu khó hoặc có máu trong phân hoặc máu có thể lẫn dịch nhầy và cảm giác đau buốt khi đi ngoài.

Để chẩn đoán polyp trực tràng, có thể xét nghiệm phân để tầm soát polyp và ung thư trực tràng bằng cách tìm máu ẩn trong phân hoặc xét nghiệm ADN.

Chụp X-quang có thuốc cản quang là phương pháp thong dụng có thể phát hiện được polyp hay khối u trực tràng nhưng dễ bỏ sót những polyp nhỏ. Chụp cắt lớp vi tính (CT-scanner) cũng có thể phát hiện polyp hoặc khối u đại trực tràng. Tuy vậy, nội soi trực tràng vẫn là phương pháp chính xác nhất để phát hiện polyp hay u và có thể sinh thiết để xác định u lành hay u ác tính.

Nguyên tắc điều trị polyp trực tràng

Việc phát hiện sớm và điều trị kịp thời, đặc biệt các trường hợp nhiều polyp hoặc polyp có kích thước lớn trên 5mm nên loại bỏ càng sớm càng tốt, giảm thiểu đáng kể nguy cơ polyp trở thành ung thư. Hiện nay chưa có thuốc đặc hiệu để điều trị, vì vậy, khi polyp có kích thước lớn hoặc nhiều polyp hoặc polyp có biến chứng, đặc biệt là loại chân rộng, không có cuống cần được loại bỏ càng sớm càng tốt bằng kỹ thuật mổ nội soi. Một số nhà chuyên môn có khuyến cáo rằng, nếu polyp tuyến, thường hay có tỉ lệ tái phát cao. Vì vậy, sau cắt polyp trực tràng khoảng 3 – 5 năm nên nội soi để kiểm tra lại.

Đi ngoài phân có máu tươi là dấu hiệu thường gặp nhất.

Nguy cơ thoái hóa trở thành ác tính của polyp trực tràng tùy thuộc vào kích thước của chúng

Lời khuyên của thầy thuốc

Khi có các triệu chứng như đã nêu ở trên, nhất là đi ngoài ra máu, người cao tuổi cần đến cơ sở y tế để được khám và xác định bệnh không nên chủ quan xem thường.

Cần có chế độ ăn hợp lý tránh ăn nhiều chất béo, thịt đỏ (thịt trâu, thịt bò, thịt chó) và trong các bữa ăn hàng ngày nên ăn nhiều hơn các loại rau, quả và ngũ cốc. Với người cao tuổi, tốt nhất là không uống rượu, bia, nhất là những người có sẵn bệnh huyết áp, tim mạch, bệnh đường tiêu hóa, đái tháo đường.

Hỏi đáp: U polyp trực tràng có nguy hiểm không?

Thưa Bác sĩ! Mẹ cháu 45 tuổi. Mẹ cháu bị viêm hang vị dạ dày đồng thời bị đại tràng. Mẹ cháu thường nôn ngay sau khi ăn. Mới đây đi nội soi Bác sĩ bệnh viện nói mẹ cháu bị u polyp trực tràng cách hậu môn 20cm. Bác sĩ cho cháu hỏi có nguy hiểm nghiêm trọng gì không? Và nếu mổ xong mẹ cháu nên ăn uống gì là tốt nhất? Cháu xin cảm ơn!

Trả lời của bác sĩ:

Chào cháu!
Mẹ cháu bị bệnh Políp trực tràng cách hậu môn 20cm, polyp trực tràng có thể là u lành nhưng cũng có thể biến chứng thành u ác tính. Để biết đó là u lành tính hay ác tính thì cần phải sinh thiết làm xét nghiệm tế bào. Nếu sức khỏe mẹ cháu cho phép thì cần tiến hành điều trị sớm.
Về chế độ ăn uống sau mổ :
– Có thể uống ít nước sau khi rút Sonde dạ dày
– Khi có trung tiện có thể ăn được, ăn ít một, nhiều bữa, đủ dinh dưỡng, không sử dụng đồ ăn uống có chất kích thích như bia rượu, không nên ăn cay, nóng.
– Ăn lỏng, ăn cháo sau dần dần ăn cơm nát.
– Bổ sung đầy đủ chất dinh dưỡng như; chất béo, chất đạm, đường, vitamin và khoáng chất, nên ăn chậm, nhai kỹ, chia những bữa nhỏ trong 2, 3 tháng đầu, hạn chế chất béo, lượng chất xơ vừa phải.
Chúc mẹ cháu mạnh khỏe!

Cắt bỏ polyp sớm, giảm nguy cơ ung thư đại trực tràng

Phần lớn ung thư đại trực tràng xuất phát từ polyp (hay u tuyến), những người có polyp nguy cơ bị ung thư đại trực tràng sẽ cao hơn, vì vậy cắt bỏ polyp khi nó còn nhỏ có thể ngăn ngừa nguy cơ chuyển sang ung thư.

Nguy cơ từ những polyp

Phần lớn ung thư đại trực tràng xuất phát từ lớp trong của đại tràng hay trực tràng, ban đầu gọi là polyp. Mặc dù polyp không phải ung thư nhưng sau này có thể phát triển thành ung thư.

Dù polyp khá phổ biến nhưng chỉ có một số ít polyp biến thành ung thư và phải mất nhiều năm. Với một polyp kích thước khoảng 1 cm thì có tỉ lệ 1/6 biến thành ung thư sau 10 năm. Ung thư biểu mô chuyến 95% ung thư đại trực tràng. Đây là ung thư khởi phát từ các tế bào tuyến nằm bên trong đại tràng và trực tràng.

Như đã nói ở trên những người có polyp (hay u tuyến) có nguy cơ bị ung thư đại trực tràng cao hơn. Cắt bỏ polyp khi nó còn nhỏ có thể ngăn ngừa nguy cơ chuyển sang ung thư.

Lối sống cũng tăng nguy cơ ung thư đại trực tràng

Các nghiên cứu khác cho thấy ung thư đại trực tràng có liên quan tới lối sống. Bao gồm:

– Thịt đỏ và thịt đã qua chế biến: có bằng chứng chắc chắn chứng minh ăn thịt đỏ và thịt đã qua chế biến làm tăng nguy cơ ung thư đại trực tràng.
– Chế độ ăn giàu chất xơ: ăn nhiều chất xơ (đặc biệt từ ngũ cốc và hạt nguyên cám) làm giảm nguy cơ ung thư đại trực tràng.
– Béo phì: Béo phì làm tăng nguy cơ ung thư đại trực tràng.
– Luyện tập thể thao: những người năng vận động cơ thể ít có nguy cơ bị ung thư đại tràng hơn.
– Rượu bia: uống rượu bia làm tăng nguy cơ ung thư đại trực tràng, thậm chí chỉ uống ở mức độ vừa.
– Hút thuốc: hút thuốc làm tăng nguy cơ ung thư ruột. Nguy cơ tăng tỉ lệ thuận với số thuốc lá hút mỗi ngày.

Triệu chứng phổ biến

Ung thư đại trực tràng thường không có triệu chứng ở giai đoạn sớm. Thực tế 50% số ca bệnh chẩn đoán ung thư đại trực tràng không có triệu chứng.

Khi triệu chứng xuất hiện thì rất đa dạng, phụ thuộc vào kích thước và vị trí ung thư. Các triệu chứng phổ biến thường có:

– Thay đổi thói quen vệ sinh, tiêu chảy hoặc táo bón
– Phân có máu
– Khó chịu ở bụng như căng cứng, đầy hơi hay đau
– Có cảm giác không đi vệ sinh hết
– Sút cân không rõ nguyên nhân

Các phương pháp điều trị

Bước quan trọng tiếp theo để kiểm soát ung thư đại trực tràng là xác định giai đoạn bệnh. Giai đoạn bệnh cho biết mức độ di căn của tế bào ung thư trong cơ thể.

Việc xác định giai đoạn bệnh ung thư đại trực tràng dựa vào kích thước khối u, các hạch có ung thư không và ung thư đã di căn sang các bộ phận khác trên cơ thể (như gan) ngoài vị trí nguyên phát chưa. Giai đoạn I là giai đoạn ung thư sớm nhất và giai đoạn IV là giai đoạn tiến triển nhất khi ung thư đã di căn ra các bộ phận khác của cơ thể.

Các phương pháp điều trị khác nhau có thể áp dụng cho ung thư đại trực tràng. Thông thường bao gồm:

– Phẫu thuật: Phẫu thuật cắt bỏ các mô có tế bào ung the và mô/hạch xung quanh. Có thể thực hiện bằng phương pháp nội soi qua ổ bụng (phẫu thuật ít can thiệt) hoặc mổ mở.

– Hóa trị: Hóa trị sử dụng các thuốc chống ung thư nhằm giảm/tiêu diệt tế bào ung thư. Thuốc truyền qua đường máu và có thể tác động đến toàn bộ tế bào ung thư trong cơ thể.

– Điều trị đích: Một số bệnh nhân ung thư đại trực tràng đã di căn được áp dụng phương pháp điều trị đích sinh học. Phương pháp điều trị đích gồm các lọa thuốc hoặc các chất nhằm chặn sự phát triển và di căn của tế bào ung thư bằng cách can thiệp phân tử tới quá trình phát triển và di căn của khối u.

– Xạ trị: Xạ trị dùng các tia năng lượng cao tiêu diệt tế bào ung thư. Nó chỉ tác động tới các tế bào ung thư trong vùng điều trị.

Phương pháp điều trị phụ thuộc vào một số yếu tố bao gồm giai đoạn bệnh và tình trạng sức khỏe của bệnh nhân.

Trên đây là toàn bộ kiến thức về chứng bệnh polyp trực tràng mà mọi người cần biết. Các bạn lưu ý rằng dấu hiệu sớm nhất và quan trọng nhất báo hiệu bệnh polyp trực tràng là đại tiện ra máu, do đó, khi đại tiện phát hiện máu tươi, các bạn hãy nhanh chóng thăm khám bác sĩ ngay lập tức, để nếu phát hiện polyp thì cắt bỏ sớm, giúp polyp không phát triển thành ung thư.

Leave a Reply