Kiến thức phòng bệnh, chữa bệnh, các bài thuốc dân gian.
Thông tin sức khỏe

Phương pháp điều trị ung thư não nguyên phát – thứ phát, điều trị như thế nào, tác dụng phụ của điều trị là gì?

Ung thư não là căn bệnh nguy hiểm vô cùng đối với sức khoẻ của chúng ta , vậy điều trị căn bệnh này có những phương pháp nào , điều trị ung thư não nguyên phát và thứ phát ra sao , sau điều trị có những tác dụng phụ gì đối với cơ thể hay không . Những câu hỏi đó sẽ được hoidapbacsi.net chia sẽ với các bạn ngay bài viết phía dưới đây.

Việc điều trị ung thư não phụ thuộc vào vị trí và kích thước của khối u, độ tuổi và sức khỏe tổng thể của bệnh nhân. Bác sĩ điều trị sẽ luôn điều chỉnh để đáp ứng nhu cầu và yêu cầu sức khỏe của bệnh nhân. Một số tùy chọn cho việc điều trị ung thư nãobao gồm phẫu thuật, xạ trị, và hóa trị. Điều quan trọng là bạn cần phải đến khám bác sĩ trước tiên để có kế hoạch điều trị thích hợp.

điều trị ung thư não 1

Phương pháp điều trị ung thư não

Phẫu thuật:

Trong hầu hết trường hợp, phẫu thuật bằng cách sử dụng các kỹ thuật vi phẫu là cần thiết để loại bỏ càng nhiều khối u càng tốt và gây tổn thương tối thiểu đến não. Mô não cực kỳ mỏng manh và có thể bị tổn thương vĩnh viễn từ áp lực quá mức hay sự gián đoạn cung cấp máu. Những rủi ro của phương pháp phẫu thuật bao gồm nhiễm trùng, xuất huyết, động kinh, liệt, hôn mê và tử vong.

Thiết bị tinh vi hiện có giúp việc phẫu thuật an toàn và hiệu quả hơn. Sử dụng hệ thống định vị vi tính cho phép bác sĩ giải phẫu thần kinh định vị chính xác khối u và đồng thời định vị xung quanh khu vực quan trọng của não. Kính hiển vi phẫu thuật tạo điều kiện cho việc bảo quản những dây thần kinh và mạch máu quan trọng, từ đó giảm nguy cơ tổn thương. Máy hút siêu âm cũng có sẵn để tạo điều kiện cho việc cắt bỏ khối u. Khối u não có thể được xử lý qua một lỗ nhỏ được tạo ra trên hộp sọ bằng cách phẫu thuật tiếp xúc (stereotactic surgery) có hướng dẫn – CT hoặc MRI. Nếu các ranh giới của khối u không thể dễ dàng xác định thì bác sĩ giải phẫu thần kinh có thể phải ngừng cắt bỏ khối u để giảm thiểu nguy cơ gây tổn hại đến phần não bình thường.

Trong những trường hợp đặc biệt khi khối u nằm ở các khu vực quan trọng của não, thường là trung tâm nói hay vận động, phẫu thuật thậm chí có thể được thực hiện khi các bệnh nhân được làm giảm đau nhưng còn tỉnh táo. Các khu vực quan trọng có thể được xác định rõ ràng hơn bằng cách kích thích chúng với một dòng điện yếu và khối u được loại bỏ với sự giám sát liên tục khả năng nói và sức mạnh chi của bệnh nhân. Mục tiêu tổng quát là để loại bỏ khối u càng nhiều càng tốt với ít tổn thương nhất là đến các khu vực quan trọng.

Khi khối u não nhỏ và nằm sâu, sự cắt bỏ khối u mở rộng có thể là không được.Trong tình huống như vậy, một khung tiếp xúc (stereotactic) có thể được thiết lập và sinh thiết có hướng dẫn – CT hoặc MRI được thực hiện. Một mảnh nhỏ của khối u được lấy và gửi đi điều tra chẩn đoán.

Xạ phẫu:

Đối với một vài khối u nhỏ, phẫu thuật dao Gamma sử dụng tia gamma tập trung rất mạnh có thể được tiến hành trong một vài giờ để kiềm hãm sự tăng trưởng của khối u mà không cần phẫu thuật.

Xạ trị:

Đối với các khối u ung thư não mà không thể cắt bỏ hoàn toàn, phẫu thuật có thể được tiếp tục với điều trị bằng tia bức xạ bên ngoài chiếu từ một máy gia tốc tuyến tính trong 2-6 tuần để tiêu diệt các tế bào khối u còn lại.

Hóa trị:

Thuốc giúp tiêu diệt hoặc làm chậm sự tăng trưởng của tế bào ung thư có thể được sử dụng bằng cách uống qua miệng hoặc bằng cách tiêm qua tĩnh mạch. Rụng tóc, buồn nôn và dễ bị nhiễm trùng là những tác dụng phụ có thể xảy ra của hóa trị.

Phục hồi chức năng:

Phục hồi có thể bị hạn chế bởi mức độ tổn thương gây ra do khối u và khả năng hồi phục của não. Chuyên gia trị liệu luôn sẵn sàng để bắt đầu quá trình vật lý trị liệu, liệu pháp nghề nghiệp và điều trị tư vấn tại các phòng bệnh. Nếu có những khuyết tật kéo dài, bệnh nhân có thể được chuyển đến khoa phục hồi chức năng hoặc đến một cơ sở chăm sóc điều dưỡng trong giai đoạn sau của quá trình phục hồi chức năng để tối đa quá trình phục hồi. Để phục hồi tốt nhất, bệnh nhân và gia đình nên duy trì một thái độ tích cực, thiết lập mục tiêu thực tế và làm việc ổn định để đạt được từng mục tiêu.

Tác dụng phụ của điều trị

Điều trị ung thư thường gây ra các tác dụng phụ. Những tác dụng phụ này xuất hiện bởi vì điều trị cũng tiêu diệt và huỷ hoại các tế bào lành. Tác dụng phụ của điều trị ung thư khác nhau. Chúng phụ thuộc vào phương pháp điều trị và vùng được điều trị. Hơn nữa, mỏi bệnh nhân lại có những đáp ứng khác nhau. Bác sĩ cố gắng lập kế hoạch điều trị để giảm tác dụng phụ xuống mức thấp nhất. Họ còn theo dõi bệnh nhân rất kỹ lưỡng để giúp xử lý tất cả những vấn đề có thể xảy ra. Phẫu thuật mổ não là đại phẫu thuật. Phẫu thuật có thể huỷ hoại mô não lành và có thể gây hiện tượng phù nề.

Mệt mỏi, các rối loạn thăng bằng, thay đổi tính cách, khó nói và khó tư duy có thể là những tác dụng phụ của điều trị. Bệnh nhân cũng có thể bị co giật. Thực tế, một thời gian ngắn sau khi phẫu thuật triệu chứng có thể trầm trọng hơn truớc đó. Hầu hết tác dụng phụ của phẫu thuật có thể giảm nhẹ hoặc biến mất theo thời gian. Hầu hết các tác dụng phụ của xạ trị sớm mất đi sau khi kết thúc điều trị. Tuy nhiên, một số tác dụng phụ có thể xảy ra hoặc kéo dài sau khi điều trị kết thúc. Một số bệnh nhân cảm thấy buồn nôn trong vài giờ dồng hồ sau khi điều trị. Bệnh nhân được chiếu xạ thấy mệt mỏi khi tiếp tục điều trị. Nghỉ ngơi là rất quan trọng, nhưng bác sĩ thường khuyên bệnh nhân cố gắng hoạt động một cách hợp lý.

Chiếu xạ ở vùng sọ làm cho hầu hết bệnh nhân bị rụng tóc. Khi tóc mọc trở lại thì tóc mới đôi khi mềm hơn và màu có thể hơi khác. Trong một số trường hợp, bệnh nhân bị rụng tóc vĩnh viễn. Phản ứng của da trong vùng điều trị là hiện tuợng thường gặp. Lớp da đầu và tai có thể bị đỏ lên, ngứa hoặc đen đi; những vùng này có thể trông như bị cháy nắng. Nên để vùng chiếu xạ tiếp xúc với không khí càng nhiều càng tốt nhưng nên tránh tia nắng mặt trời. Bệnh nhân không nên đội các loại mũ nón có thể kích thích da đầu. Chăm sóc da tốt là rất quan trọng trong thời gian này. Bác sĩ có thể gợi ý một số loại xà phòng hoặc thuốc mới và bệnh nhân không nên sử dụng bất kỳ loại dầu thơm hoặc kem dưỡng da nào khi không có lời khuyên của bác sĩ. Đôi khi tế bào não đã bị tia phóng xạ tiêu diệt tạo nên một khối trong não. Khối tế bào chết này có thể trông giống như khối u và có thể gây các triệu trứng tuơng tự như đau dầu, mất trí nhớ hoặc co giật. Bác sĩ có thể gợi ý phẫu thuật hoặc dùng steroid để làm giảm triệu chứng.

Trong khoảng thời gian từ 4-8 tuần sau khi chiếu xạ bệnh nhân có thể bị buồn ngủ hoặc mất cảm giác ngon miệng. Những triệu chứng này có thể kéo dài trong vài tuần nhưng chúng sẽ tự biến mất. Tuy nhiên, bệnh nhân nên thông báo cho bác sĩ khi có triệu chứng. Những trẻ em được điều trị khối u não bằng tia phóng xạ có thể gặp khó khăn trong quá trình học tập hoặc bị mất một phần thị lực. Nếu tuyến yên bị ảnh huởng trẻ em có thể không lớn hoặc không phát triển bình thường được. Tác dụng phụ của hóa trị liệu phụ thuộc vào loại thuốc điều trị. Nói chung, thuốc điều trị ung thư ảnh huởng tới tế bào phân chia nhanh, như tế bào máu chống lại nhiễm khuẩn, tế bào lót niêm mạc ống tiêu hóa và tế bào ứ nang tóc. Kết quả là khà năng chống nhiễm khuẩn của bệnh nhân giảm, mất cảm giác ngon miệng, buồn nôn, nôn hoặc đau giảm, mất cảm giác ngon miệng, buồn nôn, nôn hoặc đau miệng. Bệnh nhân cùng có thể có ít năng lượng hơn và có thể bị rụng tóc.

Những tác dụng phụ này thường dần biến mất sau khi kết thúc điều trị. Một số thuốc điều trị ung thư có thể gây vô sinh. Phụ nữ uống một số loại thuốc điều trị ung thư nhất định có thể có triệu chứng mãn kinh (bốc hoà hoặc khô âm đạo; kỳ kinh nguyệt có thể bất thường hoặc dừng lại). Một số loại thuốc được sử dụng điều trị ung thư ở trẻ em có thể ảnh huởng tới khá năng sinh con sau này. Một số loại thuốc điều trị u não có thể gây tổn thương thận. Bệnh nhân thường được truyền một luợng dịch lớn khi uống những loại thuốc này. Bệnh nhân cũng có thể có cảm giác kim chấm ở ngón tay, ù tai hoặc nặng tai. Nhưng vấn đề này có thể không mất đi khi kết thúc điều trị. Điều trị bằng steroid để giảm phù nề ở não có thể làm cho bệnh nhân ăn nhiều và tăng cân. Phù mặt và chân là những hiện tượng thường gặp. Steroid có thể gây cảm giác bồn chồn, tính khí không ổn định, ợ nóng và trứng cá. Tuy nhiên, bệnh nhân không nên ngừng sử dụng steroid hav thay đổi liều luợng mà không tư vấn bác sĩ. Phải dừng uống steroid một cách từ từ để cơ the điềuchỉnh cho phù hợp với sự thay đối.

Mất cảm giác ngon miệng có thể là vấn đề đối với bệnh nhằn trong quá trình điều trị. Bệnh nhân có thể không càm thấy đói khi một mỏi hoặc khó chịu. Một số tác dụng phụ thường gặp khi điều trị ung thư như buồn nôn, nôn có thể làm cho việc ăn uống khó khăn hơn. Ăn tốt có nghĩa là lấy đủ luợng calo và protein để không bị giảm cân, lấy lại sức lực và tái tạo lại các mô lành. Nhiều bệnh nhân thấy ăn nhiều bữa ăn nhỏ và bữa ăn nhẹ trong ngày có hiệu quả hơn là ăn ba bữa chính. Bệnh nhân được điều trị u não có thể có hiện tuợng đông máu và viêm tĩnh mạch, thường xảy ra nhất ở chân. Hiện tuợng này được gọi là viêm tác tĩnh mạch. Những bệnh nhân phát hiện bị phù ở chân, đau chân hoặc tấy đỏ ở chân nên thông báo cho bác sĩ ngay.

Theo dõi định kỳ sau khi điều trị là rất quan trọng đối với bệnh nhân u não. Bác sĩ sẽ kiểm tra kỹ lưỡng để chắc chắn rằng khối u chưa xuất hiện trở lại. Thăm khám định kỳ thường bao gồm khám sức khỏe toàn thân và khám thần kinh. Thỉnh thoảng bệnh nhân phải chụp cắt lớp vi tính hoặc cộng huởng từ hạt nhân.

Bệnh nhân được chiếu xạ vào những vùng rộng ở não hoặc được điều trị bằng một số loại thuốc chống ung thư nhất định có nguy cơ bị bệnh ung thư tế bào máu hoặc khối u thứ hai cao hơn. Hơn nữa xạ trị ảnh huởng tới nhãn cầu có thể dẫn đến bệnh đục thể thủy tinh. Bệnh nhân nên làm theo lời khuyên của bác sĩ về chăm sóc sức khỏe và khám kiểm tra. Nếu có vấn đề sức khỏe bất thường xảy ra thì nên thông báo cho bác sĩ ngay.

Điều trị ung thư não nguyên phát

điều trị ung thư não 2

Dựa vào vị trí phát sinh khối u, bệnh ung thư não được chia thành 2 dạng là ung thư não nguyên phát và ung thư não thứ phát.

Ung thư não nguyên phát: Các tế bào ác tính tăng sinh không kiểm soát trong não hình thành các khối u, gây chèn ép các dây thần kinh, các mạch máu trong não. Các khối u bám chặt vào các mạch máu và các dây thần kinh tạo thành những khối u rất khó để cắt bỏ. Bệnh nhân mắc bệnh ung thư não nguyên phát thường tử vong sau 2 năm phát hiện bệnh.

Ung thư não thứ phát: bệnh nhân mắc ung thư não do các tế bào ung thư ở các vị trí khác của cơ thể di căn vào não như ung thư gan, ung thư phổi, ung thư vú, ung thư buồng trứng…bệnh nhân thường tử vong sau 6-12 tháng kể từ khi phát hiện bệnh.

Điều trị ung thư não nguyên phát là vô cùng khó khăn vì cấu tạo của não phức tạp, bất kỳ những tổn thương nhỏ cũng sẽ gây ảnh hưởng đến hoạt động của cơ quan này. Mặt khác, một số loại thuốc được sử dụng trong điều trị ung thư não thường khó vượt qua hàng rào máu não.

Với hầu hết các trường hợp điều trị ung thư não nguyên phát phẫu thuật thường là phương pháp điều trị đầu tiên. Tuy nhiên, những khối u không thể tiến hành phẫu thuật, một số u đệm thần kinh đệm giai đoạn thấp có thể được kiểm soát bằng phương pháp xạ trị. Một số khối u trong não như u tuyến bạch huyết không thể sử dụng phương pháp phẫu thuật, bệnh nhân sẽ được chỉ định điều trị bằng phương pháp xạ trị hoặc hóa trị.

Phương pháp phẫu thuật có thể được thực hiện từ việc kiểm tra sinh thiết để phân loại khối u cho ca mổ chuyên sâu để loại bỏ khối u.

Nếu khối u chưa được loại bỏ hoàn toàn hoặc có khả năng tái phát các bác sỹ sẽ phải tiến hành thực hiện những ca phẫu thuật tiếp theo hoặc sử dụng kết hợp hóa trị và xạ trị để tiêu diệt khối u.

Phương pháp điều trị ung thư não thứ phát

Hiện nay, có một số phương pháp điều trị chính cho bệnh ung thư lan tới não bao gồm:

-Xạ trị
-Phẫu thuật
-Hóa trị
-Xạ trị

Xạ trị sử dụng sóng năng lượng cao tương tự như X-quang để tiêu diệt các tế bào ung thư. Đây là phương pháp điều trị phổ biến nhất cho các khối u não thứ cấp. Lượng bức xạ trị liệt của bạn sẽ phụ thuộc bào kích thước của các vùng não của bạn bị ảnh hưởng bởi bệnh ung thư. Các chuyên gia có thể đề nghị điều trị toàn bộ não nếu có một nguy cơ là khối u khác có thể phát triển trong tương lai.

điều trị ung thư não 3

Đối với xạ trị não, hoặc trong một khu vực lớn hơn bạn thường mất 1 hoặc 2 tuần. Bác sĩ có thể đề nghị xạ trị nhắm mục tiêu gọi là điều trị định vị khác nếu bạn có 1 hoặc 2 khối u não thứ cấp.

Phẫu thuật

Phẫu thuật đôi khi có thể loại bỏ các khối u não thứ phát bằng cách phẫu thuật. Điều này có thể là nếu bạn có khối u não thứ phát duy nhất và không có khối u ở nơi khác trong cơ thể bạn. Ung thư não thứ phát thường lây lan rộng rãi trong não và phẫu thuật có thể loại bỏ được.

Các chuyên gia có thể đề nghị xạ trị sau phẫu thuật để giúp tiêu diệt nốt các tế bào còn xót lại sau khi phẫu thuật và ngăn chặn bất cứ tế bào ung thư nào phát triển.

Hóa trị

Hóa trị sử dụng thuốc tiêu diệt các tế bào ung thư. Tùy thuộc vào loại ung thư của bạn để có thể quyết định hóa trị đối với một khối u não thứ phát. Hóa trị cũng có thể gặp khó khăn trong việc tiêu diệt các tế bào ung thư vì bộ não được bảo vệ bởi hàng rào là các tế bào máu não. Đây là một bộ lọc tự nhiên trong cơ thể giúp bảo vệ não khỏi các hóa chất độc hại. Nó chỉ cho phép các chất nhất định thông qua từ máu đến các mô não. Chỉ có một vài loại thuốc hóa trị có thể vượt qua được hàng rào máu não.

Hi vọng những chia sẽ của chúng tôi trên đây về các phuong pháp điều trị bệnh ung thư não sẽ giúp các bạn hiểu rõ về cách thức chữa bệnh hơn , cũng như chuẩn bị tâm lý để điều trị cho thật tốt nhé. Chúc các bạn luôn khoẻ mạnh.

Leave a Reply