Kiến thức phòng bệnh, chữa bệnh, các bài thuốc dân gian.
Thông tin sức khỏe

Phác đồ điều trị tiêu chảy cấp và lỵ trực khuẩn cho trẻ sơ sinh và bé dưới 1 tuổi

Tiêu chảy cấp và lỵ trực khuẩn là bệnh rất nguy hiểm với trẻ sơ sinh do đó các bác sĩ đầu ngành nhi khoa thế giới liên tục có những nghiên cứu thuốc và phác đồ điều trị mới giúp trẻ mau khỏi bệnh. Mời các bạn tham khảo cách điều trị tiêu chảy cấp và lỵ trực khuẩn cho bé nhé.

Xem thêm các bài viết khác thuộc chủ đề: trẻ bị tiêu chảy hoặc chủ đề: trẻ bị tiêu chảy và sốt cao

Tổ chức y tế thế giới WHO khuyến cáo liệu trình mới điều trị tiêu chảy cấp ở trẻ em dựa trên nền của liệu trình cũ có cải tiến và thu được kết quả cao hơn. Nước ta có khá đủ điều kiện thực hiện liệu trình này.

Có 3 vấn đề trong liệu trình điều trị tiêu chảy ở trẻ em mới theo WHO. Đó là: dùng oresol có tỷ trọng thấp (so với oresol cũ), kết hợp với bổ sung kẽm và dùng các thuốc chống tiêu chảy (chống loạn khuẩn, bảo vệ niêm mạc đường ruột).

điều trị tiêu chảy cấp ở trẻ em 1

Trẻ bị tiêu chảy cấp: Dùng oresol (mới) có tỷ trọng thấp

Dung dịch oresol (mới) có nồng độ natrichlorid 2,6g/l; glucose 13,5g/l và có tổng độ thẩm thấu (245mOsm/l), trong khi đó dung dịch oresol (cũ) có nồng độ natrichlorid 3,5g/l; glucose (20g/l) và tổng độ thẩm thấu (311mOsm/l). Như vậy, dung dịch oresol mới có tỷ trọng thấp hoặc có tổng độ thẩm thấu thấp hơn dung dịch oresol cũ.

Các nghiên cứu cho thấy: nhóm trẻ dùng dung dịch oresol có tỷ trọng thấp (mới) làm giảm tới 33% số trẻ phải truyền dịch, làm giảm 20% số lượng phân bài tiết và làm giảm 30% số trẻ bị nôn so với nhóm trẻ dùng dung dịch oresol có tỷ trọng cao (cũ).

Kết hợp với việc bổ sung kẽm

Kẽm có vai trò quan trọng trong việc tăng cường chức năng miễn dịch và hồi phục biểu mô ruột. Trong khi đó, tại các nước đang phát triển (trong đó có nước ta) bình thường đã có tới 30-40% trẻ em thiếu kẽm (theo Viện Dinh dưỡng quốc gia). Vì vậy việc bổ sung kẽm trong tiêu chảy ở trẻ em lại càng cần thiết.

Trong điều trị tiêu chảy cấp: Các nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng (có so sánh với nhóm chứng) chỉ ra rằng trẻ 1 tháng đến 5 tuổi (không phân biệt tuổi, tình trạng dinh dưỡng) nhóm dùng kẽm với liều 5-45mg/ngày đã làm giảm 20% thời gian tiêu chảy, giảm 18-59% số lượng phân và với liều 10-20mg/ ngày (trong 14 ngày) đã làm giảm độ nặng, thời gian mắc của bệnh so với nhóm chứng không dùng kẽm.

Trong tiêu chảy kéo dài: Các nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng (có so sánh với nhóm chứng) chỉ ra rằng nhóm trẻ có dùng kẽm sẽ làm giảm được 24% trẻ bị tiêu chảy, giảm 42% tỷ lệ thất bại điều trị hay tử vong so với nhóm không dùng kẽm. Riêng với nhóm dưới 1 tuổi là trẻ trai, bị gầy còm hoặc trẻ có nồng độ kẽm trong huyết tương thấp hơn bình thường thì sự đáp ứng với kẽm tỏ ra tốt hơn. Nhận xét chung là dùng kẽm sẽ làm giảm thời gian và độ nặng của bệnh tiêu chảy kéo dài.

Ngoài việc dùng kẽm trong điều trị, dự phòng, nhóm trẻ bổ sung đủ kẽm cũng làm giảm tỷ lệ tiêu chảy khoảng 18% so với nhóm trẻ không bổ sung kẽm.

Ấn Độ đã thực hiện nghiên cứu trên 6 cụm dân cư (với 30.000 trẻ) cũng cho thấy: dùng kẽm kết hợp với bù dịch tại cộng đồng đã làm giảm 34% sự can thiệp của nhân viên y tế, giảm đáng kể việc kê đơn kháng sinh và các thuốc chống tiêu chảy không rõ nguồn gốc khác, làm giảm đáng kể tỷ lệ trẻ phải nhập viện do tiêu chảy.

Dùng loại kẽm sulfat, kẽm acetat hay kẽm gluconat đều cho kết quả như nhau. Khi dùng, cần tính toán theo liều quy ra kẽm (như nói trên).

Các thuốc chữa tiêu chảy an toàn cho trẻ em

Thuốc chế từ vi khuẩn lành tính

Mục tiêu dùng các thuốc này là chống loạn khuẩn, kích thích tăng sản xuất IgA, phục hồi khả năng hấp thu của niêm mạc ruột, thường dùng các thuốc:

+ Lactobacillus acidophilus (antibio, biolactyl, biofidin, lacteol fort) chế từ vi khuẩn Lactobacillus acidophilus đông khô. Nhờ acid lactic và các chất kháng sinh (chưa rõ công thức) tiết ra từ vi khuẩn mà chế phẩm sẽ lập lại cân bằng sinh thái vi khuẩn ruột, chống loạn khuẩn ruột, kích thích tăng sản xuất IgA, phục hồi khả năng hấp thu của niêm mạc ruột.

+ Bacillus clausii (enterogermina) là hỗn dịch chứa các bào tử Bacillus clausii có tác dụng khôi phục lại cân bằng sinh thái vi khuẩn ruột, chống loạn khuẩn, đồng thời sản xuất một số vitamin nhóm B, đối kháng và khử độc với các tác nhân gây tiêu chảy.

+ Saccharomyces boulardii (untra-levure, bioflor), chế từ tế bào nấm men sống Saccharomyces boulardii đông khô, có tác dụng ngăn chặn sự phát triển của vi khuẩn và nấm Candida, đối kháng với các độc tố của các vi khuẩn (như Vibrio choleraem, Clostridium dificile), kích thích tăng sản xuất IgA, phục hồi khả năng hấp thu của niêm mạc ruột.

Thuốc chế từ chất có độ nhớt cao:

+ Dioctahedral smetit (smetic, smecta): Thuốc có cấu trúc xốp và có độ nhớt cao, tương tác với glycoprotein của dịch nhầy, làm tăng sức chịu đựng của lớp gel dính trên niêm mạc ruột khi bị các vi khuẩn tấn công, do vậy thuốc bảo vệ niêm mạc đường tiêu hóa. Các nghiên cứu cho thấy dùng nhóm thuốc này sẽ làm giảm thời gian tiêu chảy so với nhóm không dùng thuốc.

Không dùng thuốc này chữa tiêu chảy nhiễm độc vì thuốc làm chậm sự hấp thu của các thuốc khác (nếu dùng với các thuốc khác thì phải cách các thuốc khác một thời gian nhất định).

Hầu hết các thuốc dùng trong liệu trình điều trị đều có ở nước ta. Riêng oresol nước ta đang sản xuất theo công thức oresol cũ (có tỷ trọng cao) có thể chuyển sang sản xuất theo công thức oresol mới (tỷ trọng thấp) mà không khó khăn gì lớn về mặt kỹ thuật. Do vậy, việc áp dụng liệu trình khuyến cáo của WHO là thuận lợi.

Tiêu chảy và sốt do bệnh lỵ trực khuẩn ở trẻ em

Sốt tiêu chảy lỵ trực khuẩn còn gọi là lỵ trực trùng, xích lỵ, lỵ nhiệt độc, là bệnh viêm đại tràng cấp do trực khuẩn Shigella gây ra.

Tác nhân gây bệnh

Là trực khuẩn Shigella, thuộc họ Enterobacteriae (vi khuẩn đường ruột) là trực khuẩn gram (-), nhỏ, dài 1-3 mm, không có bao, không tạo bào tử, không di động, ái khí, có thể kỵ khí, mọc dễ dàng ở môi trường thạch lỏng 37oC. Căn cứ vào tính chất sinh hóa và kháng nguyên, Shigella được chia thành 4 nhóm:

Nhóm A: Shigella dysenteriae, gồm 10 type, type I là type duy nhất có ngoại độc tố.
Nhóm B: Shigella flexneri
Nhóm C: Shigella boydii
Nhóm D: Shigella sonnei

Người là nguồn bệnh độc nhất, do những người mắc bệnh thể cấp, thể mạn tính và người lành mang vi khuẩn. Bệnh nhân mắc thể cấp là mối đe dọa nghiêm trọng nhất, những ngày đầu họ thải một khối lượng lớn vi khuẩn ra ngoài. Những bệnh nhân mắc thể nhẹ thường không bị cách ly, không được điều trị sớm, bệnh nhân mắc thể mạn, thường là trẻ em, cũng gieo rắc mầm bệnh ở thời kỳ bộc phát. Họ duy trì căn nguyên bệnh giữa các mùa dịch, vụ dịch. Có thể từ vài tháng đến vài năm.

Phương thức lây

Bệnh lỵ trực khuẩn lây qua đường tiêu hóa, lây trực tiếp và gián tiếp. Lây trực tiếp là từ người sang người hoặc do bàn tay bẩn nhiễm khuẩn. Lây gián tiếp thường qua nước uống, thức ăn. Ruồi nhặng là mối đe dọa tiềm tàng ở các nước ôn đới, ở vùng khí hậu nóng, dân sống chen chúc tại các thành phố trong khi vệ sinh cá nhân và cộng đồng kém.

Mọi người đều mang tính cảm nhiễm với trực khuẩn lỵ, không có miễn dịch tự nhiên. Ở trẻ em, bệnh có thể nhẹ, triệu chứng không rõ nhưng cũng có thể bệnh nặng hơn người lớn. Những người lớn tuổi mắc đồng thời nhiều bệnh, những người suy dinh dưỡng dễ mắc lỵ thể nặng với tỷ lệ tử vong cao.

Triệu chứng lâm sàng

Lỵ trực khuẩn thường cấp diễn. Thời kỳ ủ bệnh ngắn (từ 1 đến 7 ngày). Bệnh phát đột ngột, không có triệu chứng báo trước với 2 hội chứng:

Hội chứng nhiễm khuẩn: Điển hình là sốt tiêu chảy: sốt cao 38 – 39oC hoặc hơn, có rét run, nhức đầu, mệt mỏi, đau lưng, đau khớp. Ở trẻ em có thể có cơn giật, đồng thời chán ăn, khát nước, đắng miệng, buồn nôn (đôi khi bị nôn), Bạch cầu tăng cao (10.000 – 13.000).

Hội chứng lỵ: Đau bụng, lúc đầu đau âm ỉ quanh rốn rồi lan ra toàn bụng theo khung đại tràng, cuối cùng thành cơn đau quặn bụng, khu trú ở hố chậu trái làm bệnh nhân muốn đại tiện, mót rặn và rát hậu môn khi đại tiện, mỗi ngày đi hơn 10 lần. Lúc đầu phân sệt, sau loãng, rất thối, lẫn với nhầy và máu. Nhầy nhiều, ít khi trong, thường đục nhờ nhờ, có khi vàng đục như mủ. Máu không tươi mà hồng nhạt hoặc sẫm như máu cá. Nhầy và máu hòa loãng với nhau không có độ bám dính.

Hội chứng nhiễm khuẩn (sốt tiêu chảy) thường ngắn, từ 2 đến 4 ngày, ít khi dài hơn. Hội chứng lỵ có thể từ 5 đến 10 ngày hoặc hơn, tùy thể bệnh, cơ địa. Ruột phục hồi chậm, trở lại bình thường sau 3 đến 4 tuần.

điều trị tiêu chảy cấp ở trẻ em 2

Các thể lỵ:

Thể nhẹ, cấp: Biểu hiện sốt tiêu chảy nhẹ. Có hội chứng nhiễm khuẩn nhẹ hoặc không rõ, nhiệt độ 37,5 – 38oC trong 1 – 2 ngày, váng đầu, mệt không đáng kể. Hội chứng lỵ nhẹ: đau quặn bụng, đi dưới 10 lần/ngày. Bệnh tự giảm nhanh. Bệnh nhân phục hồi trong vòng 1 tuần.

Thể vừa, cấp: Có hội chứng sốt tiêu chảy (nhiễm khuẩn và hội chứng lỵ) điển hình và dài hơn. Sốt 38 – 40oC từ 1 – 4 ngày, đau đầu, mệt mỏi, mạch nhanh, huyết áp hạ ít. Tiêu chảy từ 15 đến 20 lần/ngày, kèm theo mất nước (khát nước, môi khô, lưỡi bự trắng). Được điều trị tốt, bệnh nhân sẽ phục hồi sau 7 đến 14 ngày.

Thể nặng, cấp: ít gặp. Sốt tiêu chảy nặng. Hội chứng nhiễm khuẩn rất rõ rệt, kéo dài hơn 1 tuần.

Hội chứng lỵ: đau quặn bụng dữ dội, mót rặn kèm mót đái không kìm được. Đi ngoài trên 30 lần/ngày, có khi không đếm được, mất nước, rối loạn điện giải. Bệnh nhân kiệt sức, nằm đại tiện tại chỗ, có khi hậu môn mở rộng, phân tự chảy, toàn mủ và máu, mắt trũng, mặt hốc hác, mạch nhanh yếu, nhịp tim mờ, huyết áp hạ, thở gấp, li bì, ngủ gà, có thể chết nhanh sau 3 – 7 ngày. Phục hồi chậm và khó khăn, để lại di chứng, biến chứng.

Lỵ cấp ở trẻ < 1 tuổi: Có những thể cấp như trên, ngoài ra còn gặp thể rất nhẹ, kín đáo, giống như rối loạn tiêu hóa: phân loãng, không sốt. Thể dạ dày – ruột cấp: như một nhiễm khuẩn, nhiễm độc thức ăn: bắt đầu đột ngột, tiến triển nhanh, nôn nhiều lần, phân loãng, không nhầy máu, đau bụng lan tỏa, sau đó bệnh có thể diễn biến như thể lỵ điển hình (sốt tiêu chảy). Thể tối độc: rất hiếm. đi ngoài nhiều, phân nhầy mủ, có khi toàn máu, bệnh nhân có thể chết trong vài ngày đầu trong hôn mê, trụy tim mạch. Lỵ kéo dài, mạn tính: ít gặp. Thường thấy ở trẻ em (chiếm tỷ lệ từ 2 – 5% tổng số trường hợp lỵ), có thể do hệ thần kinh chưa ổn định, ký sinh trùng đường ruột sẵn có ở đường tiêu hóa. Lỵ mạn tính có thời kỳ bột phát và thuyên giảm nối tiếp nhau. Khi bột phát, về lâm sàng như lỵ cấp nhẹ hoặc vừa. Ở giai đoạn thuyên giảm, có rối loạn tiêu hóa. Lỵ kéo dài không còn giai đoạn thuyên giảm, bệnh ngày càng nặng, toàn thân suy sụp dần. Rối loạn tiêu hóa nặng, mọc nấm Candida đường tiêu hóa, thiếu Vitamin, thiếu máu. Thể này chỉ còn thấy ở người cao tuổi, mắc đồng thời nhiều bệnh nặng. Biến chứng của lỵ trực khuẩn có thể xảy ra từ 0,1 – 10% tổng số trường hợp (khi chưa có kháng sinh): sa hậu môn ở trẻ em, viêm đa dây thần kinh, ít gặp, tự khỏi, không để lại di chứng. Hội chứng viêm niệu đạo – khớp và kết mạc (hội chứng Fiessenger – Leroy – Reiter) xuất hiện sau ỉa chảy 2 tuần. Viêm niệu đạo và kết mạc giảm nhanh, còn viêm khớp khỏi chậm, có thể để lại các di chứng cứng khớp, teo cơ. Thủng ruột, viêm màng bụng cũng rất hiếm, chỉ thấy ở trẻ con. Ngày nay, tiên lượng trong bệnh lỵ trực khuẩn là tốt, tùy thể bệnh, thể địa, tuổi bệnh nhân. Bệnh chỉ nặng với trẻ nhỏ (mắc thể tối độc) hoặc người già cao tuổi, mắc nhiều bệnh cùng 1 lúc. Tử vong không quá 1%. Chẩn đoán xác định: căn cứ vào 3 yếu tố:

Dịch tễ: Bệnh xảy ra đồng loạt, nhiều người mắc bệnh trên một địa bàn hẹp, trong một thời gian ngắn.
Lâm sàng: Hội chứng lỵ đi đôi với hội chứng nhiễm khuẩn (Sốt tiêu chảy).
Phát hiện căn nguyên gây lỵ: Phân lập vi khuẩn qua cấy phân, có thể đạt tỷ lệ dương tính > 20%, thậm chí > 70% nếu bệnh nhân lấy bệnh phẩm tốt (nhầy, máu), cấy tại giường bệnh, khi chưa dùng kháng sinh, nhắc lại 3 lần trong 3 ngày đầu (cấy vào môi trường thạch hoặc Leifson, Mac Conkey). Ngày nay, với kỹ thuật mới bằng phương pháp khuếch đại chuỗi gen PCR đã phát hiện được Shigella gấp 2 lần so với nuôi cấy.

Phương pháp miễn dịch huỳnh quang phát hiện vi khuẩn trong phân (chẩn đoán khẩn cấp).

Phương pháp chẩn đoán huyết thanh: ngưng kết hồng cầu thụ động rất nhạy mang tính đặc hiệu cao, có thể chẩn đoán tới 65 – 80% lỵ cấp (chẩn đoán hồi cứu), 40% lỵ kéo dài, mạn tính.
Chẩn đoán phân biệt

Cần phân biệt lỵ trực khuẩn với các bệnh sau:

Lỵ amíp: Khởi phát từ từ, bệnh tăng dần. Hội chứng nhiễm khuẩn không rõ hoặc nhẹ. Toàn thân tương đối tốt, ít bị ảnh hưởng. Hội chứng lỵ điển hình: đau quặn bụng theo đại tràng xuống, sigma, mót rặn, rát hậu môn. Bệnh nhân muốn đi ngoài luôn nhưng chỉ 5 – 10 lần/ngày, không còn phân sau một số lần đi ngoài, chỉ còn ít nhầy như nhựa chuối với máu đỏ thành tia, khối lượng nhỏ như đồng tiền có độ bám dính. Soi trực tràng thấy trên nền niêm mạc hồng gần như bình thường, có một số thương tổn thưa, rải rác như vết xước, to bằng đầu kim, hạt đậu, bờ nham nhở. Soi phân tươi nhầy máu thấy amíp hút hồng cầu gây bệnh.

Ỉa chảy do vi khuẩn đường ruột khác, hoặc nấm: Lỵ do E.Coli ở trẻ em. Lâm sàng như lỵ trực khuẩn. Chỉ phân biệt được bằng chẩn đoán vi sinh học.

Nhiễm khuẩn, nhiễm độc thức ăn do Salmonella: Giống thể dạ dày và ruột của lỵ trực khuẩn cấp, nhưng khác với lỵ ở chỗ bắt đầu bằng đau dữ dội vùng thượng vị, nôn thốc nôn tháo. Điển hình là sốt tiêu chảy: tiêu chảy nhiều lần, phân lỏng, thối, lổn nhổn, màu xanh xám; sốt cao, rét run. Trong vài giờ, có thể gây mất nước, rối loạn điện giải nặng, dẫn tới trụy tim mạch, thậm chí tử vong nếu không kịp cấp cứu.

Tả và lỵ: Là 2 bệnh thường gặp trong dịch ỉa chảy mùa nóng ở các nước nhiệt đới. Thể nhẹ của bệnh tả có thể lầm với lỵ nhưng cũng có những nét đặc trưng: sôi bụng, không đau bụng, phân như nước cháo, màu đục, đi ngoài dễ dàng, không sốt, thân nhiệt hạ, triệu chứng nhiễm độc rõ rệt, dấu hiệu nổi bật nhất là mất nước và mất điện giải.

Loạn khuẩn ruột: Có thể gây hội chứng đại tràng, phân lỏng, nhiều nhầy, đôi khi có máu. Từ phân, cấy được Proteus, tụ cầu, nấm Candida gây bệnh. Ngoài ra cần phân biệt lỵ trực khuẩn với các trạng thái bệnh lý của đại tràng, trực tràng.

Ung thư đại tràng, trực tràng: Giống lỵ khuẩn mãn tính. Lúc đầu, phân thành khuôn, sau lỏng lẫn với máu hoặc dịch nhầy, mủ. Khi bệnh tiến triển, đau bụng dữ dội, đi ngoài mót rặn. Cuối cùng hình thành hội chứng bán tắc ruột. Chẩn đoán bằng thăm dò hậu môn, soi trực tràng và sinh thiết, X quang.

Các viêm đại tràng thứ phát: Gặp trong nhiễm độc các chất kim loại nặng: thủy ngân, chì, crom, asen … Chẩn đoán dựa vào tính chất nghề nghiệp (tiếp xúc với chất độc và ngộ độc cấp hoặc mãn tính). Viêm đại tràng do tăng urê máu là biểu hiện của suy thận ở giai đoạn cuối.

Điều trị lỵ trực khuẩn ở trẻ em

Trẻ em bị lỵ trực khuẩn phải được cách ly tại nhà, tại bệnh xá hoặc bệnh viện suốt thời gian bệnh cấp; dụng cụ, bát đĩa, ấm chén … đều phải dùng riêng. Khử khuẩn phân bằng Clorua vôi: 1 phần phân + nửa phần Clorua vôi trộn để 2 giờ, tẩy uế bô phân: ngâm trong dung dịch Cloramin 2%, luộc sôi bát đĩa, chai sữa, vú sữa; tẩy uế lần cuối buồng ở bằng Lysol 5%. Người phục vụ, tiếp xúc với bệnh nhân phải ngâm tay trong dung dịch Cloramin 1-2%.

Chế độ ăn: Chỉ hạn chế trong một vài ngày đầu, không được để bệnh nhân nhịn ăn dù chỉ 1 ngày, trở lại chế độ ăn bình thường từ ngày thứ ba, thứ tư trở đi. Đối với trẻ còn bú, vẫn cho bú như thường lệ, không giảm số lần, số lượng sữa mẹ ngay từ ngày đầu. Với trẻ đang bú sữa bằng chai, phải làm vệ sinh tốt các dụng cụ như bình đựng, vú sữa; đảm bảo chất lượng sữa pha chế, ngay từ ngày đầu, không hạn chế số lần uống, số lượng sữa. Với trẻ lớn, người lớn, trong vài ngày đầu dùng cháo ninh nhừ, đặc hoặc loãng, nấu với bột thịt, cá. Từ ngày thứ ba, thứ tư ăn cháo đặc với thịt, trứng, khoai tây nghiền, sữa chua, chuối quả, sau đó ăn cơm nát, thịt nạc luộc, nước hoa quả. Tránh thức ăn nhiều bã, thảo mộc khô.

Phòng bệnh lỵ trực khuẩn cho trẻ em

Phát hiện sớm bệnh nhân và người lành mang khuẩn. Cách ly điều trị bệnh nhân lỵ cấp. Phát hiện trong ổ dịch những thể mờ, cụt, không điển hình, đặc biệt ở nhóm người dễ mắc, dễ lây lan do nghề nghiệp. Thời gian cách ly, điều trị ít nhất 10 – 15 ngày, sau 2 lần cấy phân âm tính cách nhau 3 ngày. Tẩy uế các chất thải (bằng vôi sống 20%, nước vôi 10%); dụng cụ, quần áo bệnh nhân phải được sát trùng hoặc ngâm Cloramin 2%. Tẩy uế buồng bệnh bằng Cresyl 5%.

Bảo vệ người lành: theo dõi 7 ngày đối với người tiếp xúc với bệnh nhân (cùng ăn ở một nhà). Nếu có điều kiện, cấy phân 1 hoặc 2 lần, cách nhau 3 ngày để kiểm tra. Kiểm tra đường tiêu hóa, 3 tháng 1 lần, những người làm công việc nấu ăn, bán thực phẩm, giữ trẻ … đồng thời, cấy phân phát hiện người mang khuẩn. Đối với những người cùng làm việc và cùng ở chung nhà, không nên dùng Sulfamide hoặc kháng sinh hàng loạt để dự phòng, vì vừa tốn kém, vừa tăng sức kháng của vi khuẩn.

Cắt khâu trung gian truyền bệnh: Thực phẩm tươi sống nên cất vào tủ, buồng có lưới chống ruồi nhặng. Không nên ăn rau sống chưa sát khuẩn. Giữ vệ sinh nguồn nước, không để bị ô nhiễm, không để hệ thống nước thải, cống rãnh bị tắc. Xử lý nguồn phân và rác cho hợp vệ sinh. Không dùng phân tươi để bón ruộng. Diệt ruồi, nhặng, côn trùng bằng mọi cách. Giữ gìn tốt vệ sinh cá nhân. Uống nước đun sôi, thức ăn phải nấu chín.

Vệ sinh môi trường: nhà ở, nhà ăn, nhà bếp, nhà kho …

điều trị tiêu chảy cấp ở trẻ em 3

Cách chữa trị bệnh tiêu chảy cho trẻ dưới 1 tuổi

Mẹ của bé Mít: Các mẹ giúp em với ạ. Em sinh con đầu, nên chưa có kinh nghiệm. Bé nhà em được 5.5 tháng tuổi, nặng 7,3kg. Cháu bị tiêu chảy 1 tuần nay rồi, mỗi ngày cháu đi 3-4 lần, đi liên tục vào chiều tối. Phân sống, lỏng và hơi có nhầy như mũi. Em ra hiệu thuốc mua debby cho cháu uống không đỡ, sau đó ra trạm y tế gần nhà bác sĩ kê thuốc Dutased và Antibio em mới cho cháu uống hôm qua thì đến tối cháu nôn hết ra, em sợ phản ứng thuốc nên ngừng không cho uống. Nhưng hôm nay cháu vẫn đi, không biết em có nên tiếp tục cho uống thuốc đó nưa không. Em nghe nói men tiêu hóa Enterogermina rất tốt cho tiêu chảy cấp, em đang định đổi thuốc cho cháu. Các mẹ giúp em với, nhìn con đi ngoài nhiều và sọp đi em sốt ruột quá.

Mẹ Minh Nguyệt tư vấn chữa tiêu chảy cho trẻ 0 – 6 tháng: Sao mẹ nó để bé đi ngoài những cả tuần mới cho uống. thuốc Enterogermina rất tốt, nhà mình từ nhỏ cũng cho cu tý uống loại đó mỗi khi đi ngoài hay là phải dùng kháng sinh. bạn mua về cho bé uống đi. Nhưng đièu quan trọng nhất khi bé bị đi ngoài, không phải là làm như thế nào để cầm đi ngoài mà là làm như thế nào để bù lượng nước đã mất. Bạn phải chịu khó cho con bú hoặc uống nhiều sữa lên nhé, uống oresol tích cực vào nhé (nhớ pha đúng liều lượng trên hướng dẫn sử dụng). Cho bé uống men tiêu hoá, nếu bé có dấu hiệu đi nhiều lên, nên đi khám hoặc mời bác sĩ tới khám nhé. tìm hiểu về các dấu hiệu mất nước ở trẻ nhỏ (môi khô, khóc không nước mắt…) để biết khi nào bé bị bệnh nặng rồi nhé. tích cực cho bé uống nhiều oresol nhé.

Mẹ bé Mỹ Chi: Mẹ nó ơi chẳng cần phải men tiêu hóa gì mà vẫn khỏi nhé, bạn cứ làm theo cách của mình đi yên tâm con sẽ khỏi. Hồi con mình được 5,5 tháng cũng bị đi ngoài hoa cà hoa cải ngày 4,5 lần. Mình cho uống các loại men rồi thuốc đi ngoài mà không ăn thua con vẫn cứ bị như vậy mặc dù giảm được xuống 2,3 lần nhưng vẫn nhầy và hoa cà hoa cải.

Mình đi hỏi rồi đi khám người thì bảo con bị rối loạn tiêu hóa, người thì bảo bú sữa mẹ nên nó vậy. Để lâu mình cũng sốt ruột mình đã lên diễn đàn mò mẫm các cách rồi trang nào bài nào cũng men rồi chuối rồi ổi nhưng mình thấy không cách nào được cả .

Và rồi mình cũng tìm được cách cho con mình trộm vía mình cho con uống đúng 3 ngày là con đã thành khuôn ngon lành. Trộm vía từ đó đến nay phân con rất tốt. Bạn thử nhé: Bạn kiếm rễ và thân cây lá lốt đem rửa sạch ngâm nước muối rồi xao vàng hạ thổ nhé. sau đó hãm với nước ngày cho con uống 3 lần nhé mỗi lần 5 ml. Mình đảm bảo kết quả thấy rõ sau từng ngày.

Leave a Reply