Kiến thức phòng bệnh, chữa bệnh, các bài thuốc dân gian.
Thông tin sức khỏe

Sức khỏe

Những rối loạn tiêu hóa thường gặp ở trẻ và kinh nghiệm chữa trị hay cho bé

Những rối loạn tiêu hóa thường gặp ở trẻ và kinh nghiệm chữa trị hay cho bé

Khi trẻ bị rối loạn tiêu hóa, nhiều mẹ lúng túng không biết cách chữa trị như thế nào là đúng. Mời các mẹ tham khảo kinh nghiệm của các mẹ có con bị rối loạn tiêu hóa đã được chữa khỏi. Nhiều kinh nghiệm được chia sẻ rất hay và bổ ích. Rối loạn tiêu hóa là một thuật ngữ thường dùng để chỉ những bất thường về chức năng dạ dày. Nguyên nhân rối loạn tiêu hóa rất đa dạng như: bệnh lý của cơ thể, thay đổi chế độ ăn, dùng thuốc… đặc biệt là sự thay đổi chế độ ăn đột ngột của trẻ em khi bắt đầu ăn dặm, sẽ gây nên rối loạn tiêu hóa thể hiện qua các triệu chứng như: đầy hơi, chướng bụng, táo bón, tiêu chảy, phân sống. Với những trẻ thường xuyên có biểu hiện bất thường tại đường tiêu hóa, chắc chắn khả năng cung cấp đủ các chất cho cơ thể bị ảnh hưởng. Trẻ ăn vào ói ra, kém hấp thu… lâu ngày sẽ bị thiếu hụt chất dinh dưỡng và diễn tiến đến suy dinh dưỡng. Vì vậy, những trẻ có biểu hiện rối loạn tiêu hóa nên được đi khám sớm và đúng chuyên khoa để có hướng điều trị đúng cho trẻ. Dưới đây là một số bệnh lý tiêu hóa thường gặp ở trẻ em. Trào ngược dạ dày thực quản ở trẻ Trào ngược dạ dày thực quản là hiện tượng trào ngược những chất chứa trong dạ dày vào trong thực quản. Do cấu trúc giải phẫu dạ dày – thực quản của trẻ nhỏ không giống như người lớn, thực quản thì ngắn, phần dưới hơi nở rộng, lớp cơ chưa phát triển hoàn chỉnh và còn yếu, cơ tâm vị co thắt bất thường nên bé rất dễ nôn trớ. Nếu trẻ nôn ít (vài ba ngày mới ọc 1 lần hay 1 ngày ọc 2 lần), vẫn bú khỏe, lên cân tốt thì không sao và hiện tượng trào ngược này sẽ giảm dần khi trẻ lớn. Dù có điều trị hay không thì đến năm 2 tuổi, khoảng 60% trẻ sẽ tự hết, 40% còn lại có thể kéo dài đến 4 tuổi. Trẻ bị táo bón Táo bón không phải là bệnh, mà chỉ là 1 triệu chứng của nhiều bệnh lý khác nhau hoặc chỉ là 1 rối loạn cơ năng (thường gặp nhất). Táo bón được định nghĩa khi bé có số lần đi tiêu ít hơn bình thường (thay đổi theo lứa tuổi và mỗi cá nhân) với phân to, cứng, đau khi đi tiêu và đôi khi có máu. Táo bón có thể gây ra những biến chứng nguy hiểm như: viêm ruột, thủng ruột… Do đó, cần được khám và tìm nguyên nhân gây táo bón để có điều trị thích hợp. Táo bón rất hay gặp ở trẻ còn nhỏ khi thức ăn có quá nhiều mỡ, chất đạm […]

Đọc chi tiết toàn bài

Trẻ bị rối loạn tiêu hóa kéo dài – Nguyên nhân và Chế độ ăn uống cho trẻ

Trẻ bị rối loạn tiêu hóa kéo dài – Nguyên nhân và Chế độ ăn uống cho trẻ

Trẻ em dễ bị rối loạn tiêu hóa như tiêu chảy, táo bón kéo dài. Vậy nguyên nhân vì sao trẻ lại bị rối loạn tiêu hóa kéo dài và chế độ ăn uống dành cho trẻ bị rối loạn tiêu hóa như thế nào? Ai đã từng nuôi con hẳn đã trải qua nhiều lần làm một việc mà bạn đã từng cảm thấy “ghê” đó ngắm ngía, và hít ngửi phân con, nhất là khi đang có rối loạn tiêu hóa. Khi phân con có nhầy, bọt, chua hay có lẫn máu, mẹ lại đau đầu, đau lòng, đau xót không yên và tìm mọi cách chữa rối loạn tiêu hóa cho con. Nhưng bạn đã hiểu đúng về rối loạn tiêu hóa ở trẻ chưa? Phải làm gì để bảo vệ đường ruột cho trẻ? Nhiều bà mẹ “kêu cứu” con bị rối loạn tiêu hóa do bú sữa mẹ, nghi ngờ do mẹ ăn “linh tinh” nên làm “rối loạn” luôn cả sữa mẹ! Trên thực tế, tất cả những gì người mẹ ăn khi qua “bộ máy xử lý tinh vi” của người mẹ sẽ được lọc thành các chất gồm các đạm, mỡ, lactose, vitamin, sắt, muối khoáng, nước và các enzym. Bé bú là uống những chất này nên khó có thể gây rối loạn tiêu hóa cho trẻ bú sữa mẹ hoàn toàn. Chỉ trừ trường hợp trẻ có cơ địa dị ứng sữa bò, nếu mẹ uống sữa bò, sữa qua đường tiêu hóa vẫn còn nguyên, do đó sẽ khiến trẻ bị rối loạn tiêu hóa. Ngay như cụm từ “rối loạn tiêu hóa” cũng là một từ chung chung biểu hiện tiêu hóa không bình thường ở trẻ. Ví dụ, trẻ ói mà không rõ nguyên nhân từ đâu thì kết luận chung là trẻ đang có rối loạn tiêu hóa (rối loạn đường ruột), nhưng nếu trẻ ói mà kèm theo đỏ họng thì có thể kết luận trẻ bị viêm họng… Ở trẻ thường có 4 biểu hiện rối loạn tiêu hóa chính: ói, tiêu chảy, đầy hơi ăn không tiêu và táo bón. Trong trường hợp, trẻ có biểu hiện của tình trạng rối loạn tiêu hóa trên trong 1 – 2 ngày, nhưng trẻ vẫn ăn, chơi, ngủ bình thường, không có triệu chứng của bệnh lý khác kèm theo thì cha mẹ có thể yên tâm là trẻ vẫn khỏe mạnh, không có bệnh gì. Sau đó, cơ thể trẻ sẽ tự điều chỉnh và hồi phục. Các bậc cha mẹ cũng cần lưu ý, các bệnh ở đường tiêu hóa rất dễ nhầm lẫn với nhau và nhẫm lẫn với các bệnh khác vì cơ thể cũng biểu hiện bằng các triệu chứng đã kể ở trên, nên nếu không phát hiện kịp thời có thể sẽ nguy hiểm. Ví dụ, nếu triệu chứng ói, tiêu chảy có kèm theo sốt, ho, chảy mủ tai thì có thể trẻ đang mắc bệnh viêm […]

Đọc chi tiết toàn bài

Tìm hiểu về bệnh cao cholesterol: Triệu chứng và phân loại cao mỡ máu

Tìm hiểu về bệnh cao cholesterol: Triệu chứng và phân loại cao mỡ máu

Bệnh cao cholesterol sẽ đưa đến biến chứng của nhiều bệnh, trong đó có bệnh tim mạch. Do đó, bệnh cao mỡ máu rất nguy hiểm và người bệnh cần điều trị tích cực Nhiều người cho rằng cholesterol gây ảnh hưởng nguy hiểm cho cơ thể. Nhưng trên thực tế, cholesterol đóng vai trò hết sức quan trọng… Cholesterol là gì? Cholesterol là một hợp chất rất quan trọng đối với hoạt động sống của cơ thể, nó có thể là bạn và có thể là kẻ thù của con người. Cholesterol là một hợp chất không thể thay thế, đóng vai trò trung tâm xây dựng màng tế bào, hoocmon sinh dục và thúc đẩy quá trình tiêu hóa nhưng nó cũng là một nguyên nhân gây thiếu máu cơ tim (bệnh mạch vành). Cholesterol trong máu được cung cấp bằng hai nguồn: từ thức ăn và được tổng hợp từ tế bào gan. Các thức ăn có chứa nhiều cholesterol như mỡ động vật, trứng, bơ, phomat, gan. Có mấy dạng cholesterol? Trong gan, cholesterol kết hợp với protein tạo ra hai dạng cholesterol là LDL (lipoprotein có trọng lượng phân tử thấp) và HDL (lipoprotein có trọng lượng phân tử cao), và được vận chuyển vào dòng máu. HDL mang ít cholesterol nên có thể kết hợp với cholesterol tự do trong máu và vận chuyển về gan để xử lý, vì vậy nếu hàm lượng của HDL trong máu càng cao thì càng giảm nguy cơ mắc bệnh mạch vành. Người có hàm lượng HDL trong máu cao hơn 60mg/dl là ngưỡng an toàn đối với bệnh tim mạch, thấp hơn 40mg/dl là có nguy cơ mắc bệnh cao. Ngược lại, LDL chứa nhiều cholesterol và khởi xướng sự hình thành các mảng xơ vữa trên thành các động mạch nói chung và các động mạch vành tim nói riêng (trạng thái này gọi là xơ vữa động mạch). Các mảng xơ vữa này gây hẹp hay tắc lòng mạch máu nuôi dưỡng cơ tim gây ra các cơn đau tim. Hàm lượng LDL càng cao thì nguy cơ mắc bệnh mạch vành càng cao. Mặc dù hàm lượng LDL và HDL là những chỉ số tốt nhất để dự đoán nguy cơ mắc bệnh mạch vành, nhưng xác định hàm lượng cholesterol toàn phần trong máu cũng rất quan trọng để dự đoán nguy cơ bị bệnh mạch vành. Nếu một người có hàm lượng cholesterol toàn phần trong máu thấp hơn 200mg/dl thì ít có nguy cơ mắc bệnh mạch vành, nhưng nếu cao hơn 240mg/dl thì có nguy cơ mắc bệnh cao. Kiểm soát lượng cholesterol Biện pháp hữu hiệu nhất để giảm hàm lượng LDL, tăng HDL và giảm cholesterol máu toàn phần là thay đổi chế độ ăn và tăng cường tập thể dục thể thao. Cần giảm lượng chất béo sử dụng chung, đặc biệt là giảm lượng chất béo no chứa trong mỡ động vật. Để đạt được […]

Đọc chi tiết toàn bài

10 triệu chứng bệnh của bé các mẹ cần phải đề phòng và không được chủ quan

10 triệu chứng bệnh của bé các mẹ cần phải đề phòng và không được chủ quan

Các bác sỹ chăm sóc sức khỏe nhi khoa cho biết cha mẹ không nên xem thường những dấu hiệu bệnh lý ở trẻ, đôi khi các em đang khỏe mạnh, vui vẻ nhưng chỉ một cơn sốt hoặc sổ mũi thì đột ngột trở bệnh nặng. Đặc biệt với một số căn bệnh nguy hiểm không phải lúc nào cũng có những triệu chứng cụ thể, nếu chịu khó quan sát, người lớn có thể thấy những dấu hiệu dễ nhận biết sau đây để dự đoán bệnh của trẻ: 1. Bé sốt cao Nhiệt độ bình thường của cơ thể là 37 độ C, nếu nó tăng lên 37,5 độ C tức là sốt (ngoại trừ những đứa trẻ dưới 3 tuổi có thân nhiệt cao hơn). Về vấn đề này, các bác sĩ nhi khoa khuyên, bên cạnh việc theo dõi chỉ số nhiệt độ cơ thể, điều quan trọng hơn mà cha mẹ cần làm là quan sát các biểu hiện khó chịu ở đứa trẻ. Nếu thấy các em vui chơi và ăn uống bình thường thì không cần lo lắng, nhưng nếu chúng có vẻ cáu kỉnh, tính khí bất thường hoặc uể oải, có thể là dấu hiệu bệnh lý nên cần đưa trẻ đến gặp bác sĩ càng sớm càng tốt. 2. Bé sốt phát ban, kèm theo đau đầu, tê cứng cổ Khi trẻ bị sốt phát ban, cha mẹ thường cho rằng đó chỉ là triệu chứng bệnh về da bình thường. Tuy nhiên trong một số trường hợp đây có thể là dấu hiệu của bệnh viêm màng não. Theo các bác sĩ, có nhiều bệnh gây phát ban, trong đó nguy hiểm nhất là phát ban do viêm màng não với biểu hiện là những đốm chấm đen hoặc vết sưng tấy khắp người. Những vết sưng màu đỏ thường không xẹp xuống khi dùng tay ấn mạnh vào nó. Ngoài ra, có những triệu chứng khác như sợ ánh sáng mặt trời, nôn mửa, ngủ mê man khó đánh thức, rối loạn hoặc ngất xỉu cũng là dấu hiệu bệnh viêm màng não ở trẻ. Khi thấy những biểu hiện này, cha mẹ nên sớm đưa trẻ đến bệnh viện chữa trị để ngăn chặn những biến chứng nguy hiểm. 3. Trẻ khóc dai dẳng Thông thường, nếu trẻ khóc không dứt, khóc lớn hơn bình thường, kèm theo sốt, đó có thể là dấu hiệu bị nhiễm trùng nặng. Cha mẹ nên đưa bé đến bác sĩ nhi khoa để được khám và tư vấn điều trị ngay. 4. Bé bị khó thở, khò khè Nếu con bạn khó thở, khò khè, bỏ ăn, nên đưa bé đến gặp bác sĩ ngay bởi đây có thể là dấu hiệu chỉ điểm bệnh về hô lấp. Căn bệnh này là nguyên nhân phổ biến thứ 5 gây tử vong cho trẻ từ 1 đến 14 tuổi tại Anh. Khó thở, khò khè có thể do bệnh hen […]

Đọc chi tiết toàn bài

Nguyên nhân khiến bé bị ho và cách hay chữa trị ho cho bé theo dân gian

Nguyên nhân khiến bé bị ho và cách hay chữa trị ho cho bé theo dân gian

Có tới 7 loại bệnh có thể khiến bé bị ho, như hen suyễn, viêm tiểu phế quản, cảm cúm… Các mẹ cần tìm ra chính xác bệnh gì khiến bé bị ho để có phương pháp trị ho cho bé đúng cách. Ngoài ra, bài viết này còn hướng dẫn các mẹ trị ho cho bé theo kinh nghiệm dân gian. Bất cứ bà mẹ nào cũng cảm thấy căng thẳng và lo lắng khi con mình bị ho, nhất là những cơn ho dai dẳng và khiến không ít chị em cồn cào như lửa đốt vào giữa đêm. Những tiếng khò khè cùng hơi thở nặng nhọc của con là nỗi ám ảnh của các bà mẹ. Tuy nhiên, nếu mẹ biết cách theo dõi và lắng nghe các cơn ho của bé, rất có thể sẽ phát hiện sớm căn bệnh đang có trong cơ thể con mình để điều trị cho bé kịp thời. Bệnh hen, suyễn khiến cho bé bị ho Lắng nghe tiếng ho: Cơn ho của bé dai dẳng kèm theo những tiếng rít khẽ và khò khè, có thể đã kéo dài hơn 10 ngày và trở nên tệ hơn vào ban đêm hoặc có biểu hiện dị ứng với phấn hoa, thời tiết lạnh, lông hoặc mùi động vật, bụi bẩn và khói. Những biểu hiện khác: Bé thở nhanh, gấp và tiếng thở bị khô, khò khè Thủ phạm chính: Hen, suyễn thường là bệnh mãn tính, kinh niên khi đường hô hấp trao đổi không khí với lá phổi bị thu hẹp, có khi bị sưng làm đường thông khí bị tắc nghẹt, tạo nên các chất nhầy và co thắt, khiến trẻ thở khó khăn hơn. Những yếu tố chủ yếu gây nên căn bệnh này bao gồm những tác động của môi trường, vi khuẩn lây lan và trong quá trình vận động của trẻ. Theo các bác sỹ trẻ em, trẻ nhiễm căn bệnh này thường có lá phổi rất nhạy cảm. Mẹ nên làm gì: Theo các bác sỹ trong trường hợp bị hen suyễn nhẹ thì cơn ho dai dẳng là biểu hiện duy nhất của căn bệnh này. Các mẹ hãy cho bé đi khám để có được cách trị bệnh khoa học và dứt điểm. Mẹ đừng quên nói với bác sỹ trong trường hợp trong gia đình có người đã có tiền sử căn bệnh này hay các loại bệnh dị ứng khác nhé, vì rất có thể đó cũng là nguyên nhân khiến bé bị bệnh đấy. Viêm tiểu phế quản khiến cho bé bị ho Lắng nghe tiếng ho: Cơn ho của bé có đờm, khò khè và thường kéo theo hơi thở nhanh, nông và khó khăn. Những biểu hiện khác: Bệnh có thể bắt đầu bằng các triệu chứng của cảm lạnh như hắt hơi, sổ mũi, nghẹt mũi trong vòng một tuần, sau đó có cơn sốt khoảng 39,4 độ C, bé ngủ lịm đi […]

Đọc chi tiết toàn bài

Điều trị huyết áp thấp và chế độ dinh dưỡng phù hợp dành cho người bệnh

Điều trị huyết áp thấp và chế độ dinh dưỡng phù hợp dành cho người bệnh

Trị số huyết áp tâm thu dưới 90mmHg bị coi là huyết áp thấp. Người bị bệnh huyết áp thấp cần có chế độ tập luyện phù hợp và cẩn trọng trong vấn đề ăn uống. Có nhiều nguyên nhân dẫn tới huyết áp thấp, nhưng sau đây là các nguyên nhân chính: – Do suy giảm hoạt động của tuyến giáp. Khi cơ thể bị thiếu hụt hàm lượng hormon của tuyến giáp, sẽ dẫn tới nguy cơ mắc chứng huyết áp thấp, kèm theo các triệu chứng hoa mắt chóng mặt, rụng tóc. – Do suy giảm glucoza. Nếu hàm lượng đường trong máu giảm xuống dưới mức 2.5mmol/l, bạn có thể sẽ phải chịu đựng cảm giác mệt mỏi, run rẩy và vã mồ hôi. – Hàm lượng hemoglobin thấp. Một ngưòi khoẻ mạnh hàm lượng hemoglobin trong máu ở mức 100 milliters. Ở nam giới hàm lượng này ở mức 13,5 tới 17,5 g/ dl còn ở nữ giới là 11,5 tơi 15,5g/dl. Khi hàm lượng hemoglobin thấp tức là dưới mức 9g/dl sẽ khiến cho lượng oxy vận chuyển tới não và tim bị suy giảm, có thể làm cho cơ thể choáng váng hoa mắt, chóng mặt. – Nhịp tim chậm. Nếu nhịp tim đập dưới 60 nhịp trong một phút, sẽ không đủ lượng máu và oxy lưu thông trong cơ thể. Đây là một trong những nhân tố dẫn tới bệnh huyết áp thấp. – Khi cơ thể gặp lạnh, mưa. – Stress và di truyền cũng là những nguyên nhân dẫn tới huyết áp thấp. Huyết áp bao nhiêu là bình thường? Về các số đo huyết áp gồm có 2 trị số : Huyết áp tối đa hay còn gọi là tâm thu, huyết áp tối thiểu hay còn gọi là tâm trương. Căn cứ vào 2 trị số này để chẩn đoán huyết áp thế nào là bình thường: Huyết áp bình thường: Đối với người lớn, huyết áp tâm thu dưới 120mmHg và huyết áp tâm trương dưới 80mmHg thì được gọi là huyết áp bình thường. Huyết áp cao: Khi huyết áp tâm thu từ 140 mmHg trở lên hoặc huyết áp tâm trương từ 90 mmHg trở lên thì chần đoán là cao huyết áp. Tiền cao huyết áp: Giá trị nằm giữa huyết áp bình thường và cao huyết áp (Huyết áp tâm thu từ 120-139 mmHg hoặc huyết áp tâm trương từ 80-89 mmHg) thì được gọi là tiền cao huyết áp Huyết áp thấp: Hạ huyết áp (huyết áp thấp) được chẩn đoán khi huyết áp tâm thu dưới 90 mmHg hoặc giảm 25 mmHg so với bình thường. Để kết luận một người bị tăng huyết áp hay không người ta cần căn cứ vào trị số huyết áp của nhiều ngày. Đo đó phải đo huyết áp thường xuyên, nhiều lần trong ngày, theo dõi trong nhiều ngày. Phải đo huyết áp cả hai tay sau 5 phút nằm nghỉ và […]

Đọc chi tiết toàn bài

Tìm hiểu về huyết áp thấp và những biến chứng nguy hiểm của huyết áp thấp

Tìm hiểu về huyết áp thấp và những biến chứng nguy hiểm của huyết áp thấp

Ngoài huyết áp cao, huyết áp thấp cũng là 1 bệnh tiềm ẩn nguy hiểm cho người bệnh mắc phải. Bài viết này nhằm trang bị kiến thức tổng quan cho mọi người về bệnh huyết áp thấp, mời các bạn tham khảo. Thế nào là huyết áp thấp? So với mức huyết áp bình thường là 120/80mmHg, người bị huyết áp thấp thường có trị số huyết áp tối đa thấp hơn 100 mmHg, phổ biến là thấp hơn 90/60mmHg. Ngoài phương pháp kiểm tra huyết áp bằng cách đo huyết áp bằng các máy đo huyết áp điện tử hoặc tới kiểm tra tại các trung tâm y tế, người bệnh cũng có thể theo dõi trị số huyết áp bằng các dấu hiệu cảnh báo từ sức khỏe. Nhiều người bệnh bị huyết áp thấp thường có chung những biểu hiện bên ngoài như mệt mỏi, buồn nôn, hoa mắt, chóng mặt, đau đầu nhất là khi họ phải thay đổi tư thế đột ngột. Những người có nguy cơ cao bị huyết áp thấp? Dưới đây là một số người có nguy cơ bị huyết áp thấp: Phụ nữ mang thai: Phụ nữ mang thai không chỉ đối diện với nguy cơ huyết áp cao (người ta gọi là tăng huyết áp thai kỳ) mà còn phải đối diện với nguy cơ huyết áp thấp. Cụ thể trong khoảng 24 tuần đầu của thai kỳ, huyết áp tâm thu thường giảm năm đến 10 điểm và huyết áp tâm trương giảm nhiều từ 10 – 15 điểm. Điều này là hết sức bình thường, các trị số huyết áp có thể trở lại bình thường như trước thời kỳ mang thai sau khi người phụ nữ sinh con. Người bị các vấn đề về tim: Một số bệnh nhân bị tim mạch có thể dẫn đến huyết áp thấp bao gồm nhịp tim rất thấp (nhịp tim chậm), các vấn đề van tim, đau tim và suy tim. Các điều kiện này có thể gây hạ huyết áp, vì ngăn chặn cơ thể có thể lưu thông máu đủ. Người mắc các bệnh về nội tiết: Đó là những người có tuyến giáp kém, hoặc tuyến giáp hoạt động quá mức, cả 2 hiện tượng này có thể gây hạ huyết áp. Ngoài ra, một số người bị suy thượng thận (bệnh Addison), đường huyết thấp (hạ đường huyết) và trong một số trường hợp, bệnh tiểu đường có thể gây ra huyết áp thấp. Người bị mất nước: Khi cơ thể bị mất nước, có thể dẫn đến tình trạng cơ thể yếu, chóng mặt và mệt mỏi. Sốt, nôn mửa, tiêu chảy nặng, lạm dụng thuốc lợi tiểu và tập luyện vất vả tất cả có thể dẫn đến mất nước. Người bị mất máu: Mất máu do ảnh hưởng của vết thương lớn hoặc chảy máu nội bộ làm giảm lượng máu trong cơ thể, dẫn đến sự sụt giảm nghiêm trọng về […]

Đọc chi tiết toàn bài

Nguyên nhân gây đau ngực ở phụ nữ và đau ngực có nguy hiểm hay không?

Nguyên nhân gây đau ngực ở phụ nữ và đau ngực có nguy hiểm hay không?

Đa số phụ nữ sẽ bị đau ngực vào một thời điểm nào đó trong cuộc sống, đau ngực thường xảy ra khi mang thai. Đau vú ở phụ nữ có khi là 1 cơn đau bình thường nhưng cũng có khi là dấu hiệu của 1 bệnh nguy hiểm. Phụ nữ trẻ và tiền mãn kinh thường bị đau vú hơn mặc dầu đến tuổi sau mãn kinh cũng vẫn có thể bị đau vú. Khoảng 1/10 phụ nữ bị đau vú từ nhẹ đến nặng hơn 5 ngày trong một tháng. Một số trường hợp phụ nữ bị đau vú nặng suốt cả chu kỳ kinh, rất ảnh hưởng đến sinh hoạt bình thường và cả đời sống tình dục. Đau vú đơn thuần, không kèm triệu chứng gì khác hiếm khi báo hiệu ung thư vú. Tuy nhiên, bị đau vú không rõ nguyên nhân gây khó chịu hay lo lắng nhiều thì cũng nên gặp thầy thuốc để được kiểm tra. Các dấu hiệu và triệu chứng: Đau vú có thể diễn ra rõ rệt theo chu kỳ kinh; không có chu kỳ nghĩa là đau thường xuyên hay lúc đau lúc không, và không liên quan đến chu kỳ kinh; và ngoài khu vực vú như đau cơ thành ngực nhưng vẫn cảm thấy có nguồn gốc từ vú. Những đặc điểm của đau vú có chu kỳ khác với đau vú không có chu kỳ: Đau vú có chu kỳ: Thường ở cả bên vú và ở toàn bộ vú, nhất là phần trên và phía ngoài của vú, lan ra nách. Có thể cảm thấy đau rất nhạy cảm, sưng hay có đám cứng ở vú đi kèm với đau. Phụ nữ thường mô tả cảm giác đau của mình là âm ỉ, nặng nề, nhiều nhất vào 1 – 2 tuần trước khi ra kinh, sau đó dễ chịu dần. Đau vú theo chu kỳ thường gặp nhất, có tỷ lệ khoảng 2/3 số trường hợp đau vú và hay gặp ở phụ nữ ở độ tuổi 30 – 40. Đau vú không có chu kỳ: Thường chỉ đau một bên vú và thường khu trú ở một vùng nhất định. Một số khác bị đau vú có tính chất lan tỏa và lan ra nách. Kiểu đau không theo chu kỳ này thường được mô tả dữ dội hơn, có tính chất nhức nhối, buốt nhói và thường gặp ở độ tuổi 40 – 50 hay sau mãn kinh. Nguyên nhân: không thể xác định được nguyên nhân đích thực trong phần lớn trường hợp mặc dầu đã có nhiều giả thuyết. – Đau vú theo chu kỳ có vai trò của hormone, dựa trên nhận xét sự giảm đau hay biến mất liên quan đến thai nghén hay mãn kinh; tuy nhiên hormone bất thường đến mức độ thì gây ra đau vú vẫn không thể xác định được. – Đau vú không có chu kỳ không mấy khi kết […]

Đọc chi tiết toàn bài

Đau ngực: Tổng hợp các nguyên nhân và các bệnh gây ra triệu chứng đau ngực

Đau ngực là một triệu chứng có thể do nhiều bệnh mang lại, bài viết này tổng hợp tất cả các bệnh gây ra cơn đau ngực và phân biệt cơn đau ngực. Nhiều bệnh khác nhau có thể gây đau ngực, nhưng quan trọng nhất đối với các thầy thuốc và người bệnh là phân biệt đau ngực có phải do thiếu máu cục bộ cơ tim (còn gọi là bệnh tim vành) hay không, vì thái độ xử trí, cách phòng bệnh, tiên lượng hoàn toàn khác nhau. Đau thắt ngực Gọi là “ đau thắt”, nhưng trong thực tế, phần lớn người bệnh chỉ thấy tức, nặng, chèn ép ở ngực, ít khi đau thực sự. Vị trí đau phần nhiều ở giữa ngực, sau xương ức, đôi khi ở ngực trái hoặc ngực phải: những ca điển hình đau lan lên trên (xương đòn, vai, hàm, có khi đau dọc cánh tay đến tận ngón tay). Điểm đặc trưng của đau thắt ngực là xuất hiện khi gắng sức thể lực, như đi nhanh, chạy, leo dốc, lên thang gác, vác nặng. Cũng có lúc đau khi ăn quá no, ra lạnh, hoặc xúc động (tức giận, sợ hãi …). Nghe tim, đo huyết áp, khám thực thể không thấy gì đặc biệt. Đau thắt ngực thường rất ngắn, từ 1 đến 10 phút, ít khi quá 15 phút. Cách chấm dứt cơn đau rất đơn giản: nhiều khi chủ cần ngừng gắng sức là đủ. Nếu đau nhiều, thì thầy thuốc chuyên kha cho người bệnh ngậm lâu dưới lưỡi một viên nitroglycerin 0,5mg cho tan trong miệng (đừng nuốt), chỉ vài phút sau là hết đau. Sau 15 phút, nếu còn đau thì thêm một viên thứ 2 rồi có thể viên thứ 3. Nếu không đỡ, nên gửi lên tuyến trên. Bệnh này do động mạch vành bị hẹp, chủ yếu là hẹp do vữa xơ, hay gặp ở người đứng tuổi, nam nhiều hơn nữ. Dưới 40 tuổi, bệnh rất hiếm. Một số bệnh tim khác không phải vữa xơ động mạch vành cũng có thể gây những cơn giống đau thắt ngực và cũng xuất hiện, kho gắng sức như hẹp van chủ, hở van chủ, bệnh cơ tim phì đại. Nhồi máu cơ tim. Đau cũng ở giữa ngực, nhưng dữ dội hơn nhiều, có cảm giác sợ hãi, có khi kêu la, vã mồ hôi, tụt huyết áp. Đau kéo dài hơn đau thắt ngực, mặc dầu đã nằm nghỉ và ngậm nitronglycerin. Khám thực thể không thấy gì đặc biệt. Nếu đau quá 30 phút, cần nghĩ là đã nhồi máu cơ tim. Là bệnh rất nặng, tử vong rất cao (khoảng 25-30%), cần phải đến viện ngay, trì hoãn có thể nguy đến tính mạng. Nếu đau quá có thể tiêm một ống morphin dưới da trước khi chuyển. Bệnh viêm màng ngoài tim, tràn dịch màng ngoài tim Đau cũng ở ngực, nhưng kéo dài cả […]

Đọc chi tiết toàn bài

Huyết áp cao ở người trẻ và các câu hỏi thường gặp về bệnh tăng huyết áp

Huyết áp cao ở người trẻ và các câu hỏi thường gặp về bệnh tăng huyết áp

Cao huyết áp không chỉ xảy ra ở người già, mà ngày càng có nhiều người trẻ (dưới 35 tuổi) mắc bệnh cao huyết áp. Bài viết này tổng hợp toàn bộ kiến thức về bệnh cao huyết áp, bao gồm phòng ngừa cao huyết áp ở người trẻ, cách đo huyết áp đúng phương pháp, thực phẩm phòng và trị cao huyết áp, các câu hỏi thường gặp về bệnh. Tăng huyết áp ở người trẻ (dưới 35 tuổi) là dạng bệnh lý khá phổ biến hiện nay với tỉ lệ người mắc khoảng 5% – 12%. Tình trạng huyết áp tăng cao gây nhiều tác động xấu đến sức khỏe và hiệu quả công việc. Phát hiện tình cờ bệnh tăng huyết áp ở người trẻ Tăng huyết áp ở người trẻ có đến 70% là không có triệu chứng điển hình như nhức đầu, chóng mặt… và được phát hiện tình cờ trong đợt khám sức khỏe định kỳ hoặc bệnh nhân đến khám bệnh vì lý do khác. Tăng huyết áp ở người trẻ thường bị cao số huyết áp dưới, ví dụ 120/95mmHg, trong khi tăng huyết áp ở người cao tuổi thường là tăng số huyết áp trên, ví dụ 170/80mmHg. Dấu hiệu không điển hình của tăng huyết áp ở người trẻ có thể gặp như khó kiềm chế cảm xúc, dễ nóng giận, dễ mất tập trung, dễ ảnh hưởng đến công việc, giao tiếp… Tăng huyết áp gây các biến chứng trên tim mạch, tai biến mạch máu não… Ngoài ra, ở người trẻ bị tăng huyết áp thì tỉ lệ rối loạn chức năng tình dục cao gấp 2,5 lần so với người không bị tăng huyết áp. Tỉ lệ này còn cao hơn khi người trẻ bị tăng huyết áp kèm theo các bệnh khác như đái tháo đường, bệnh lý thận mạn… Ngoài ra, người bệnh cũng dễ bị rối loạn cảm xúc theo chiều hướng dễ nóng giận, mất kiềm chế… Các yếu tố cản trở việc điều trị tăng huyết áp ở người trẻ xuất phát từ tâm lý không chấp nhận mình bị tăng huyết áp vì cảm thấy cơ thể khỏe mạnh bình thường, tâm lý che giấu bệnh vì sợ ảnh hưởng việc thăng tiến trong công việc. Nguyên nhân chủ yếu của bệnh huyết áp ở người trẻ Nguyên nhân gây tăng huyết áp ở người lớn tuổi có đến 95% trường hợp không có nguyên nhân, chỉ khoảng 5% có nguyên nhân. Tuy nhiên, ở người trẻ, tỉ lệ tăng huyết áp có nguyên nhân cao hơn so với người lớn tuổi. Các nguyên nhân có thể gặp là bệnh lý thận mạn tính, mất thăng bằng nội tiết tố, dùng nhiều rượu … Ngoài ra, các yếu tố góp phần làm tăng huyết áp là hút thuốc lá (kể cả hút thuốc lá thụ động), béo phì, stress, lối sống tĩnh tại, ăn quá mặn, uống nhiều rượu. Để phòng […]

Đọc chi tiết toàn bài
Page 68 of 71« First...102030...6667686970...Last »