Kiến thức phòng bệnh, chữa bệnh, các bài thuốc dân gian.
Thông tin sức khỏe

Nguyên nhân, triệu chứng bệnh loãng xương và các biện pháp điều trị loãng xương

Loãng xương là căn bệnh khó điều trị và thường để lại hậu quả xấu như gãy xương. Nó gây ra cho người bệnh nhiều phiền toái trong cuộc sống, đau lưng xương khớp, nhiều khi phải nằm 1 chỗ vì đau đớn. Vậy loãng xương có di truyền không và triệu chứng của loãng xương như thế nào

Nguyên nhân, triệu chứng bệnh loãng xương

nguyên nhân bị bệnh loãng xương

Nguyên nhân bệnh loãng xương

Trẻ thiếu cân, thiếu dinh dưỡng canxi: theo các nghiên cứu gần đây cho thấy, những trẻ nhỏ bị thiếu cân còi xương lúc nhỏ thì sau lớn lên nguy cơ bị loãng xương càng cao, hoặc những người dành thực đơn chế độ ăn kiêng thiếu canxi trầm trọng cũng khiến tăng nguy cơ bị loãng xương.

Di truyền: Những gia đình có tiền sử bị mắc bệnh loãng xương thì con cái dễ dàng mắc bệnh loãng xương hơn.

Corticosteroids: Một trong số thuốc gây loãng xương nguy hiểm nhất là steroids (cortisone hay predinisone). Đây là một số loại thuốc chuyên trị kể cả bệnh viêm đa khớp dạng thấp nặng. Nếu dùng corticosteroids trong thời gian dài sẽ khiến bạn dễ dàng mắc bệnh loãng xương.

Estrogen rất có ích trong việc tổng hợp canxi cho xương và giúp tăng cường tạo xương chắc khỏe, vì vậy vào những ngày “đèn đỏ”, lượng estrogen bị giảm mạnh khiến bạn dễ dàng mắc bệnh loãng xương nếu không được cung cấp đủ dinh dưỡng cho cơ thể.

Xương mỏng và tỷ trọng xương thấp: Nếu khi trẻ tỷ trọng và khối lượng xương của bạn quá thấp thì nguy cơ phát triển chứng loãng xương sẽ càng trầm trọng hơn khi bạn bước vào thời kỳ mãn kinh.

Bất động quá lâu do bệnh, do nghề nghiệp (du hành vũ trụ).

Do các bệnh thận: thải nhiều calci, chạy thận nhân tạo.

Do các bệnh nội tiết: cường vỏ thượng thận, suy tuyến sinh dục, cường giáp trạng.

Do thuốc: lạm dụng steroid, heparin.

Triệu chứng bệnh loãng xương

Đau xương: đau cột sống do xẹp các đốt sống hoặc rối loạn tư thế cột sống.
Khó thực hiện được các động tác quay lưng, ngửa, cúi… vì thấy đau khi làm động tác đó.
Gù lưng, chiều cao giảm đi so với lúc trẻ tuổi.
Dễ gãy xương, thường gặp là gãy đầu trên xương đùi, xương cánh tay, đầu dưới xương cẳng tay, xương sườn, xương chậu và xương cùng.
Đau dây thần kinh hông.
Đau các dây thần kinh trên sườn lan ra phía bụng.
Béo bệu, tăng huyết áp, rối loạn nội tiết, viêm tổ chức dưới da, hư khớp.

Chẩn đoán loãng xương

1. Lâm sàng:

a. Biểu hiện lâm sàng:

– Đau mỏi mơ hồ ở cột sống, đau dọc các xương dài (đặc biệt xương cẳng chân), đau mỏi cơ bắp, ớn lạnh, hay bị chuột rút (vọp bẻ) các cơ…

– Đau thực sự cột sống, đau lan theo khoanh liên sườn, đau khi ngồi lâu, khi thay đổi tư thế. Có thể đau mãn tính hoặc cấp tính sau chấn thương (gãy xương cổ tay, gãy lún đốt sống, gãy cổ xương đùi…

– Đầy bụng chậm tiêu, nặng ngực khó thở

– Gù lưng, giảm chiều cao

Tuy nhiên, loãng xương là bệnh diễn biến âm thầm, người ta thường ví bệnh giống như một tên ăn cắp thầm lặng, hằng ngày cứ lấy dần calci trong ngân hàng dự trữ xương của cơ thể con người. Khi có dấu hiệu lâm sàng, thường là lúc đã có biến chứng, cơ thể đã bị mất tới 30% khối lượng xương

b. Biến chứng của loãng xương:

– Đau kéo dài do chèn ép thần kinh

– Gù vẹo cột sống, biến dạng lồng ngực…

– Gãy xương cổ tay, gãy lún đốt sống, gãy cổ xương đùi

– Giảm khả năng vận động, ảnh hưởng nghiêm trọng tới chất lượng sống của người có tuổi.

2. Cận lâm sàng

– Chụp X quang xương (Cột sống và các xương)

– Đo khối lượng xương BMD bằng nhiều phương pháp:

– Xét nghiệm:

Máu: Osteocalcin, Bone Specific Alkaline Phosphatase (BSAP) để đánh giá quá trình tạo xương

Nước tiểu: Deoxy Lysyl Pyridinoline (DPD), N telopeptides liên kết chéo (NTX)…để đánh giá quá trình huỷ xương

– Sinh thiết xương để thấy được những tổn thương vi cấu trúc của xương

Chi phí cho điều trị loãng xương

Hàng năm, chi phí cho điều trị loãng xương ở các nước phát triển không ngừng tăng lên. Riêng ở Mỹ, một đất nước phát triển vào loại hàng đầu của thế giới, chi phí cho bệnh LX luôn à một con số rất đáng được toàn xã hội, quan tâm. Chỉ trong vòng 12 năm, chi phí này đã tăng gấp 3,5 lần (5,1 tỷ USD năm 1986 và 18 tỷ USD năm 1998)

Theo thông báo của Liên đoàn chống bệnh loãng xương Thế giới (IOF), hiện nay, chi phí cho bệnh loãng xương tương đương với chi phí cho bệnh tiểu đường và lớn hơn chi phí cho bệnh Tiểu đường và lớn hơn chi phí cho cả hai bệnh ung thư thường gặp nhất ở phụ nữ cộng lại (ung thư vú và ung thư tử cung). Chi phí lớn nhất cho bệnh loãng xương là để điều trị biến chứng gãy xương, đặc biệt là gãy cổ xương đùi.

Gẫy xương là một biến chứng nặng của loãng xương, được ví như:

– Tai biến mạch vành (Nhồi máu cơ tim) trong bệnh Thiếu máu cơ tim cục bộ

– Đột quỵ (Tai biến mạch máu não) trong bệnh Cao huyết áp

Vì hậu quả của chúng không thua kém gì nhau,mặc dù trên thực tế người ta vẫn nghĩ là Tai biến mạch vành hay mạch não nặng nề hơn nhiều.

Các chi phí y tế để điều trị các biến chứng gẫy xương do loãng xương bao gồm:

1. Chi phí nằm bệnh viện để điều trị gẫy xương : kết hợp xương, thay chỏm xương đùi, nẹp ví cột sống…

2. Chi phí điều trị các biến chứng do nằm lâu ở người có tuổi bị gẫy xương (vì phải bất động chỗ xương gẫy, vì không vận động được) như : viêm phổi, viêm đường tiết niệu, loét tư thế …

3. Chi phí cho các thuốc điều trị tích cực bệnh loãng xương (Bisphosphonates và/ hoặc Calcitonin và/ hoặc hormon hay các thuốc giống hormon) trong suốt quãng đời còn lại của người bệnh để tránh tái gẫy xương.

4. Hậu quả của gẫy xương do loãng xương:

Đối với gẫy cổ xương đùi :

– 10 – 20% người bệnh tử vong trong vòng 1 năm

– 20% người bệnh phải có người trợ giúp suốt cuộc đời còn lại

– 30% người bệnh bị tàn phế, phải phụ thuộc hoàn toàn vào người khác

– Chỉ có khoảng 30% có thể hội nhập trở lại với cuộc sống xã hội nhưng lúc nàocũng còn bị nguy cơ tái gẫy xương rình rập.

Các thuốc điều trị loãng xương

1. Các thuốc chống huỷ xương:

Là nhóm thuốc quan trọng nhất trong điều trị loãng xương vì làm giảm hoạt tính của tế bào huỷ xương (Osteoclast) và làm giảm chu chuyển xương.

Nhóm hormon và các thuốc giống hormon

Là nhóm thuốc có tác dụng ức chế hoạt động của các tế bào hủy xương

Nhóm hormon sinh dục nữ (Oestrogen và các giống hormon) dùng để phòng ngừa và điều trị LX cho phụ nữ sau mãn kinh (menopause)

Oestrogen (biệt dược Premarin)

Oertrogen và Progesterone (biệt dược Prempak C, Prempro…)

Thuốc giống hormon: Tibolol (biệt dược Livial)

Thuốc điều hòa chọn lọc thụ thể Oestrogen (SERMs): Raloxifene (biệt dược Evista)

Nhóm hormon sinh dục nam (Androgen) dùng để phòng ngừa và điều trị loãng xương cho nam giới sau tắt dục (andropause) :Testosrerone (Biệt dược Andriol)

Nhóm Bisphosphonates:

Bisphosphonates là nhóm thuốc mới được sử dụng từ đầu thập niên 90, có tác dụng làm tăng khối lượng và độ cứng của xương, đặc biệt ở cột sống, giảm đáng kể được nguy cơ gãy xương do loãng xương.

Có rất nhiều loại như: Pyrophosphate, Clodronate, Tiludronate, Pamidronate, Etidronate, Alendronate,Risedronate…

Hiện nay, 3 loại Bisphosphonates đang được sử dụng rộng rãi trên giới là Etidronate (Difosfen), Alen dronate (Fosamax) và Risedronate (Actonel).

Thuốc còn có thể sử dụng để phòng ngườa cho những đối tượng có nguy cơ cao bị loãng xương (phụ nữ sau mãn kinh, bệnh nhân phải sử dụng thuốc kháng viêm corticosteroid kéo dài…)

Calcitonin

Calcitonin là một chuỗi các acid amin từ cá hồi, có tác dụng chống huỷ xương, giảm đau do hủy xương và làm giảm chu chuyển xương.

Cơ chế tác dụng:

Gắn kết với các thụ thể đặc hiệu trên hủy cốt bào

Làm giảm số lượng và hoạt động của hủy cốt bào

Hiệu quả của thuốc: giảm tỷ lệ gãy xương và giảm đau do hủy xương.

2. Các thuốc tăng tạo xương

– Parathyroid Hormon: rPTH 2 ug TDD/ ngày là thuốc duy nhất được công nhận là tăng tạo xương thực sự

– Calcium và vitamin D: để cung cấp “nguyên liệu “ cho việc tạo xương mới, kích thích hoạt động của tế bào sinh xương (Osteoblast)

· Vitamin D hoặc chất chuyển hoá của vitamin D (Calcitriol – Rocaltrol) giúp cho việc sử dụng calcium hiệu quả hơn

· Calcium nhằm cung cấp những nguyên vật liệu để bổ xung cho xương khi mà chế độ ăn không đáp ứng đủ hoặc khi cơ thể không hấp thu đầy đủ

– Thuốc tăng đồng hoá (Durabolin, Deca-durabolin) có tác dụng tăng cường hoạt tính của tế bào sinh xương, tăng cường chuyển hoá protein.

Trên thực tế các thuốc chống huỷ xương cũng có tác dụng tăng tạo xương và các thuốc tăng tạo xương cũng có tác dụng chống huỷ xương

Sử dụng các thuốc điều trị loãng xương

1. Kết hợp thuốc chống huỷ xương và thuốc tăng tạo xương:

– Bisphosphonate + Calci và Vitamin D

– Calcitonin + Calci và Vitamin D

– Hormon thay thế + Calci và Vitamin D

2. Kết họp các thuốc chống huỷ xương và thuốc tăng tạo xương:

– isphosphonate + Hormon thay thế + Calci & Vitamin D

– Calcitonin + Hormon thay thế + Calci & Vitamin D

– Biphosphonate + Calcitonin + Hormon thay thế + Calci & Vitamin D

Riêng rPTH, mới được FDA công nhận là thuốc kích thích sự tạo xương vì vậy kinh nghiệm lâm sàng về loại thuốc này chưa nhiều.

Các bác sĩ chuyên khoa sẽ cho các chỉ định điều trị, tùy thuộc vào từng cá thể, mức độ loãng xương, tình trạng sức khỏe, thói quen sinh hoạt, khả năng kinh tế… của mỗi người bệnh.

Làm thế nào để phát hiện sớm loãng xương

1. Phát hiện các yếu tố nguy cơ gây loãng xương thứ phát (đã nêu trên)

2. Đi khám bệnh sớm, ngay khi có các dấu hiệu đau mỏi mơ hồ ở cột sống, ở hệ thống xương khớp, dọc các xương dài (đặc biệt xương cẳng chân), đau mỏi cơ bắp, vọp bẻ…

Các Bác sĩ chuyên khoa sẽ cho kiểm tra:

– Chụp Xquang xương hoặc cột sống

– Đo khối lượng xương (Bone Mass Density – BMD)

– Làm các xét nghiệm kiểm tra

– Khám và phát hiện các yếu tố nguy cơ

3. Khám bệnh và theo dõi định kỳ (tuỳ mức độ bệnh)

4. Luôn có ý thức phòng bệnh (suốt cuộc đời)

– Chế độ sinh hoạt, tập luyện tăng cường hoạt động ngoài trời, tập vận động thường xuyên và phù hợp với sức khoẻ, duy trì lối sống năng động, tránh các thói quen xấu: uông nhiều bia, rượu, cafe, thuốc lá…

– Chế độ ăn uống luôn luôn bảo đảm một chế độ ăn uống đầy đủ Protein và khoáng chất, đặc biệt là Calci. Vì vậy sữa và các chế phẩm từ sữa (Bơ, Phoma, Yaourt…) là thức ăn lý tưởng cho một khung xương khỏe mạnh.

Chế độ này cần được duy trì suốt cuộc đời mỗi người.

Kiểm soát tốt các bệnh lý ảnh hưởng và các yều tố nguy cơ của bệnh

Phòng bệnh loãng xương

Bệnh loãng xương và các biến chứng nặng như gẫy cổ xương đùi, gẫy xương cổ tay, gẫy xẹp đốt sống… là một gánh nặng đối với y tế cộng đồng vì chi phí điều trị cho bệnh loãng xương rất lớn, vượt quá khả năng của phần lớn bệnh nhân (Phần lớn các thuốc chống huỷ xương đều đắt tiền).

Tuy nhiên, phòng bệnh sẽ kinh tế hơn chữa bệnh rất nhiều, đây là giải pháp tốt nhất cho mọi quốc gia, đặc biệt các nước nghèo như nước ta.

Hãy phòng ngừa bệnh loãng xương bằng việc “đầu tư cho xương của bạn” và “đầu tư cho xương của con bạn” càng sớm càng tốt. Hãy bổ xung ngay sữa và các sản phẩm từ sữa vào khẩu phần ăn hàng ngày của mọi người trong gia đình bạn nếu có thể.

Nếu khối lượng xương đỉnh lúc trưởng thành tăng 10%, sẽ giảm được 50% nguy cơ gãy xương do loãng xương trong suốt cuộc đời.

Đây cũng là đầu tư cho sức khỏe, việc làm này phải là trở thành ý thức tự giác của các thế hệ, của toàn xã hội, để cải tạo nòi giống, để cải thiện cách ăn uống, sinh hoạt chưa hợp lý của phần lớn các nước đang phát triển ở Châu Á như nước ta.

Loãng xương có di truyền?

Với cuộc sống lành mạnh, tập thể dục đều đặn ba lần/tuần, mỗi lần 30 phút, chế độ ăn đầy đủ canxi kết hợp với viên canxi – vitamin D thì chị sẽ phòng ngừa được bệnh loãng xương.

Mẹ tôi năm nay 55 tuổi, hay đau nhức người, đau lưng, đã đi khám và làm xét nghiệm. BS nói mẹ tôi bị loãng xương. Xin hỏi, bệnh loãng xương ở tuổi mẹ tôi có nguy hiểm không? Tôi năm nay 33 tuổi và đã có hai con, tôi có nguy cơ loãng xương giống mẹ không? X.Hương (Q.3, TP.HCM)

Trả lời của bác sĩ:

– Loãng xương là tình trạng mật độ canxi và khoáng chất trong xương suy giảm, làm cho xương trở nên giòn, xốp, dẫn đến nguy cơ gãy xương tăng cao. Khi xương đã loãng, chỉ cần những va chạm rất nhẹ cũng dẫn đến gãy xương. Xương bị gãy sẽ rất khó liền trở lại. Người bệnh phải nằm một chỗ, điều trị dài ngày trong bệnh viện, tốn kém thời gian, giảm tuổi thọ của người bệnh, chưa kể một số biến chứng do nằm một chỗ: bội nhiễm đường hô hấp, đường tiết niệu, lở loét ở các nơi tì, đè…

Loãng xương là một bệnh không chừa một ai và mọi lứa tuổi đều có thể mắc phải, nhất là đối tượng trung niên và người cao tuổi. Vì vậy, mẹ của chị đã bị LX thì phải tuân thủ điều trị theo hướng dẫn của BS chuyên khoa để giảm thiểu biến chứng của loãng xương là gãy xương.

Chị nên đi khám và tư vấn để phòng ngừa bệnh loãng xương, vì bệnh này có thể phòng ngừa và can thiệp để làm chậm quá trình xương bị giòn, yếu. Với cuộc sống lành mạnh, tập thể dục đều đặn ba lần/tuần, mỗi lần 30 phút, chế độ ăn đầy đủ canxi kết hợp với viên canxi – vitamin D thì chị sẽ phòng ngừa được bệnh loãng xương.

Leave a Reply