Kiến thức phòng bệnh, chữa bệnh, các bài thuốc dân gian.
Thông tin sức khỏe

Điều trị ung thư đại trực tràng và chế độ dinh dưỡng hợp lý và chăm sóc, theo dõi sau phẫu thuật

Ung thư đại trực tràng là loại ung thư ác tính, thường gặp ở các nước phát triển. Bệnh cần được phát hiện sớm và có phương pháp điều trị thích hợp.Hôm nay hoidapbacsi.net sẽ chia sẽ với các bạn 1 số kiến thức về điều trị ung thư đại trực tràng cũng như chế độ dinh dưỡng , các chăm sóc và theo dõi bệnh nhân sau phẩu thuật. Hi vọng bài viết này sẽ giúp được các bạn phần nào hiểu thêm và cách thức điều trị cũng như các bước điều trị căn bệnh này. Dưới đây là một số phương pháp điều trị và biến chứng có thể xảy ra sau đó.

Điều trị và biến chứng của ung thư đại trực tràng

điều trị ung thư đại trực tràng 1
Phẫu thuật để điều trị ung thư đại trực tràng (Ảnh minh họa)

Phẫu thuật, hóa trị và xạ trị hỗ trợ là những cách điều trị ung thư đại – trực tràng. Người ta thường gọi là điều trị đa mô thức nghĩa là điều trị bằng nhiều cách khác nhau. Hiện nay, áp dụng phương pháp mới nhất trong hóa trị hỗ trợ, đó là sử dụng liệu pháp ngắm trúng đích (targeted therapy).

Dựa vào từng giai đoạn khác nhau của bệnh mà áp dụng những cách điều trị cùng lúc hoặc theo thứ tự trước sau.

1. Phẫu thuật

Phương pháp

Phẫu thuật được coi là phương pháp chính trong việc điều trị ung thư đại – trực tràng. Với ung thư đại tràng, bác sỹ sẽ cắt bỏ đoạn có ung thư cùng các hạch đi kèm. Hai đầu ruột sẽ được nối lại (nối bằng tay hay bằng máy khâu-nối gọi là stapler). Ung thư phần thấp của đại tràng được phẫu thuật cắt trước thấp. Bệnh nhân vẫn đi đại tiện bình thường sau khi cắt bướu, 2 đầu ruột được nối lại với nhau.

Trường hợp ung thư đại tràng còn sớm có thể mổ cắt bướu qua nội soi ổ bụng với các đường mổ nhỏ, do đó bệnh nhân phục hồi nhanh và ít đau sau mổ.

Với phần ung thư phần dưới trực tràng, gần sát hậu môn thì phải làm phẫu thuật Miles, tức là phải cắt toàn bộ hậu môn-trực tràng-sigma. Đầu trên được đưa ra ngoài làm hậu môn nhân tạo vĩnh viễn, ruột già được mở ra da để phân thoát ra ngoài. Sau mổ bệnh nhân sẽ đi cầu ở bụng

Nếu ung thư trực tràng xâm lấn qua cơ quan kề bên thì phải cắt rộng thêm các cơ quan như bàng quang, tiền liệt tuyến và tử cung. Sau mổ, bệnh nhân cũng đi cầu ở bụng. Nếu có cắt bàng quang thì phải mở đường tiểu (thường là niệu quản) ra da. Nếu bệnh nhân có mở hậu môn nhân tạo hoặc có mở niệu quản ra da, họ cần được hướng dẫn về cách chăm sóc.

Một số phương pháp như cắt pôlíp, cắt bướu tại chỗ có thể thực hiện ngang qua hậu môn hoặc qua nội soi đại – trực tràng. Ung thư gần hậu môn và ở giai đoạn sớm (giai đoạn I) có thể dùng cách này để điều trị.

Nếu ung thư đại – trực tràng đã lan qua phổi, gan, buồng trứng hoặc các cơ quan trong ổ bụng phẫu thuật viên có thể cắt rộng các cơ quan. Cách làm này đôi khi giúp kéo dài thêm cuộc sống cho bệnh nhân ung thư đại – trực tràng. Ung thư qua gan, thầy thuốc có thể áp dụng phương pháp khác với phẫu thuật để diệt trừ ung thư như ngăn chặn nguồn máu nuôi bướu hoặc diệt ung thư bằng cách đông lạnh hoặc dùng sức nóng. Lưu ý, những phương pháp này chỉ có ý nghĩa chữa tạm thời chứ không chữa khỏi tận gốc.

Biến chứng sau phẫu thuật

Sau mổ, có thể xảy ra một số biến chứng như: chảy máu, tổn thương bên trong khi mổ, bục miệng nối đại tràng (hiếm gặp), nhiễm trùng vết mổ hoặc tắc ruột sau mổ do dây dính.

Vấn đề tình dục

Đối với nam giới: sau phẫu thuật có thể bị rối loạn về tình dục, đặc biệt là liệt dương. Trường hợp khác bị xuất tinh ngược chiều vào bàng quang. Người bệnh muốn có con phải gửi tinh trùng vào ngân hàng trước khi mổ.
Với phụ nữ: dù có mang hậu môn nhân tạo trên lý thuyết không bị rối lọan tình dục.

2. Xạ trị

điều trị ung thư đại trực tràng 2

Phương pháp

Đây là phương pháp dùng tia có năng lượng cao (tia X) để diệt tế bào ung thư hoặc làm teo tế bào. Xạ trị có thể từ bên ngoài cơ thể hoặc bên trong, ghim vào mô bướu.

Theo điều trị của các bác sỹ, dùng xạ trị có thể giúp hỗ trợ sau mổ bằng cách diệt số tế bào ung thư còn sót lại mà mắt thường không nhìn thấy trong khi mổ. Nếu bướu quá lớn hoặc ở vị trí khó mổ, có thể xạ trị trước để bướu nhỏ lại, dễ mổ hơn.Cách điều trị này cũng giúp giảm nhẹ các triệu chứng gây khó chịu cho bệnh nhân như tắc ruột, chảy máu hay đau.

Xạ trị trong ung thư đại tràng có công dụng là khi ung thư dính vào một cơ quan nội tạng hoặc dính vào thành bụng. Trong trường hợp này, bác sỹ phẫu thuật không chắc đã lấy hết mọi tế bào ung thư vì thế nên dùng xạ trị hỗ trợ để diệt các tế bào còn sót lại.

Với ung thư trực tràng, xạ trị dùng để ngừa ung thư tái phát hoặc điều trị ung thư tái phát tại chỗ gây đau. Điều trị ung thư đại tràng di căn thì xạ trị ít khi được dùng.

Với ung thư đại – trực tràng xạ trị ngoài được dùng nhiều nhất. Dùng xạ trị 5 ngày/tuần trong nhiều tuần, mỗi lần xạ trị chỉ phát tia trong vài phút. Cách xạ trị khác là đưa đưa tia vào qua ngã hậu môn lên trực tràng. Khi xạ trị bên trong thầy thuốc sẽ dùng các thỏi phóng xạ nhỏ đặt gần hoặc đặt trực tiếp vào khối bướu. Phương pháp này dùng cho ung thư trực tràng ở người già, sức khoẻ yếu không chịu được những cuộc phẫu thuật lớn.

Biến chứng của xạ trị

Da bị kích thích, buồn nôn, tiêu chảy, dấu hiệu trực tràng hoặc bàng quang bị kích thích và mệt mỏi. Nam giới có thể thấy tình trạng liệt dương. Thông thường các biến chứng này sẽ hết khi ngừng xạ trị.

3. Hóa trị

Phương pháp

Dùng thuốc bằng đường tiêm truyền hoặc uống để tiêu diệt tế bào ung thư. Thuốc vào đường máu và đi khắp, có lợi cho trường hợp ung thư đã tiến triển xa.

Dùng hóa trị hỗ trợ sau mổ với một số giai đoạn bệnh, có thể giúp tăng thêm thời gian sống cho bệnh nhân. Hóa trị cũng giúp giảm triệu chứng trong trường hợp ung thư đã tiến xa.

Đối với một số trường hợp có thể tiêm thuốc chống ung thư vào mạch máu nuôi khối u. Đó gọi là phương pháp hóa trị vùng. Do thuốc đi thẳng vào bướu nên có thể ít có phản ứng phụ toàn thân.

Do dùng hóa chất để tiêu diệt tế bào ung thư nên cũng làm tổn hại tế bào bình thường, dẫn đến một số tác dụng ngoại ý. Điều này phụ thuộc vào loại thuốc, liều lượng và thời gian dùng thuốc.

Biến chứng

Điều trị bằng phương pháp hóa trị có thể gây ra các hiện tượng: Tiêu chảy, buồn nôn và ói mửa, chán ăn, rụng tóc, nổi mẩn ở chân tay và phù, đau họng, dễ nhiễm trùng, dễ chảy máu nơi tiêm chích hoặc khi bị chấn thương, mệt mỏi.

Các tác dụng phụ này sẽ hết khi ngưng thuốc, ví dụ như hết tóc nhưng tóc có thể đổi khác.

Ung thư đại-trực tràng: cần có chế độ dinh dưỡng hợp lý và chăm sóc, theo dõi sau phẫu thuật
Với sự phát triển không ngừng trong lĩnh vực ngoại khoa và chuyên ngành gây mê hồi sức. Những phương thức phẫu thuật ít xâm lấn (phẫu thuật nội soi) được áp dụng ngày càng nhiều bên cạnh các phẫu thuật thường qui khác (mổ mở). Tuy nhiên, phẫu thuật nội soi chỉ có thể thực hiện được tại các bệnh viện chuyên khoa, do đó việc chăm sóc sau mổ sẽ được các bác sĩ đặt trọng tâm vào: giảm đau sau mổ, tập vận động sớm cho bệnh nhân, tập vật lý trị liệu và dinh dưỡng. Tích cực trong chăm sóc sau mổ sẽ làm giảm thời gian nằm viện của bệnh nhân từ 1 đến 4 ngày.

điều trị ung thư đại trực tràng 3

Chăm sóc sau mổ – không thể thiếu trong toàn bộ quá trình điều trị ngoại khoa

Ở những bệnh nhân được mổ chương trình, việc chăm sóc sau mổ được chú trọng và thực hiện liên tục xung quanh cuộc mổ từ việc đánh giá và chuẩn bị bệnh nhân cho mỗi một cách thức phẫu thuật, đến việc tư vấn cho người bệnh nhằm làm giảm thiểu những xáo trộn tâm lý, cũng như giúp cho sự hồi phục sức khỏe của họ được nhanh chóng hơn.

điều trị ung thư đại trực tràng 4

Người bệnh sau mổ ung thư đại-trực tràng cũng được chăm sóc và theo dõi một cách chặt chẽ cũng giống như những cuộc mổ lớn khác, phải theo dõi sát tình trạng mạch, nhiệt độ, huyết áp, nhịp thở (gọi chung là các dấu hiệu sinh tồn). Duy trì dịch truyền trong vài ngày đầu sau mổ nhằm cân bằng nước, điện giải cho người bệnh. Việc kiểm soát đau sau mổ được hỗ trợ bởi máy bơm tiêm tự động, giúp bệnh nhân tự kiểm soát đau theo đúng liều lượng thuốc đã được tính toán. Hướng dẫn người bệnh tập vận động sớm, tập hít thở và cho bệnh nhân ăn uống trở lại sớm vào ngày thứ nhất sau mổ, không cần thiết chờ đợi khi có nhu động ruột trở lại như quan điểm trước đây. Hạn chế đặt ống thông (như ống thông mũi-dạ dày, ống thông tiểu), hay dẫn lưu chỉ đặt khi thật sự cần thiết. Các bác sĩ sẽ thăm khám bụng người bệnh mỗi ngày, sờ nắn bụng để đánh giá tình trạng của phúc mạc, theo dõi sát sự hoạt động trở lại của ruột.

Những bệnh nhân nặng và trải qua cuộc phẫu thuật lớn phải được theo dõi đặc biệt: như bệnh nhân có thời gian hồi sức kéo dài, có những biến chứng xảy ra trong lúc mổ và những bệnh nhân mổ cấp cứu. Tuy những bệnh nhân này là một gánh nặng cho bệnh viện, nhưng sẽ được hưởng những lợi ích từ việc chăm sóc tích cực và những tiến bộ như máy giúp thở, máy cảnh giới (monitoring) và các loại dược phẩm hữu ích, giúp người bệnh vượt qua cơn nguy kịch.

Việc chăm sóc bệnh nhân cần có sự phối hợp của các bác sĩ ở nhiều chuyên khoa khác nhau. Phẫu thuật viên xem xét đánh giá về tiến triển của phẫu thuật và thường xuyên tiếp xúc với bệnh nhân và gia đình họ, giúp người bệnh an tâm và tin tưởng tuyệt đối trong điều trị.

Hiệu quả của dinh dưỡng đúng cách trước, trong và sau phẫu thuật

Nhu cầu tăng dinh dưỡng và năng lượng giúp làm lành vết thương, chống nhiễm trùng và hồi phục sức khỏe sau cuộc mổ. Bệnh nhân suy dinh dưỡng trước mổ sẽ làm thời gian hồi phục kéo dài, vết thương chậm lành và biến chứng nhiễm trùng vết mổ là không thể tránh khỏi, do đó cần chăm sóc dinh dưỡng tích cực trước mổ.

điều trị ung thư đại trực tràng 5

Hơn một nửa bệnh nhân mắc các bệnh ung thư khác nhau được điều trị đầu tiên bằng phẫu thuật. Các bác sĩ có thể cắt bỏ toàn bộ hoặc một phần cơ quan bị bệnh, chắc chắn sẽ làm ảnh hưởng đến khả năng ăn và tiêu hóa thức ăn. Ở những bệnh nhân phẫu thuật vùng đầu cổ bị ảnh hưởng trực tiếp bởi động tác nhai, nuốt, nếm, ngửi thức ăn và nuốt nước bọt. Khi phẫu thuật thực quản, dạ dày, ruột non, đại-trực tràng thì sẽ ảnh hưởng đến sự vận chuyển thức ăn và tiêu hóa thức ăn. Một điều quan trọng không thể bỏ qua là cảm xúc căng thẳng về cuộc mổ cũng ảnh hưởng đến sự ngon miệng của người bệnh.

Liệu pháp dinh dưỡng có thể giúp làm giảm mất cân bằng dinh dưỡng do phẫu thuật gây ra, bổ sung dinh dưỡng đường uống, dinh dưỡng qua đường ruột, dinh dưỡng qua đường tĩnh mạch, các loại thuốc làm tăng sự thèm ăn. Tránh các loại nước uống có ga (sô-đa) và các loại thức ăn gây ra khí như đậu, đậu Hà Lan, bông cải xanh, bắp cải, củ cải, dưa chuột. Chọn thức ăn giàu protein và nhiều calo (trứng, phó mát, sữa, kem, các loại hạt, bơ đậu phộng, thịt, gia cầm, cá….). Ở những bệnh nhân bị táo bón, nên tăng thêm chất xơ trong khẩu phần ăn hàng ngày (ngũ cốc nguyên hạt, đậu, rau củ quả, trái cây…)… giúp việc hồi phục chức năng sinh lý đường ruột của bệnh nhân ung thư đại-trực tràng trở về bình thường khoảng một tuần sau mổ. Chế độ ăn không thay đổi so với trước mổ, tuy nhiên ở những bệnh nhân bị bệnh ung thư trực tràng (ruột kết) cần giảm bớt lượng chất xơ trong thời gian vài tháng đầu sau mổ.

Cần chăm sóc, theo dõi sau phẫu thuật giúp sớm phát hiện biểu hiện tái phát của bệnh

Mục đích của việc theo dõi sau mổ là tìm ra những biểu hiện sớm của các triệu chứng tái phát nhằm tạo cơ hội điều trị khỏi cho bệnh nhân một lần nữa. Các dữ liệu cho thấy rằng phát hiện tái phát càng sớm thì kết quả điều trị càng cao.

Không ít người bệnh rất lo lắng, thậm chí còn hoang man, tuyệt vọng khi được chẩn đoán là bệnh bị tái phát hay di căn. Câu hỏi được đặt ra là “phát hiện sớm tái phát có cải thiện sống còn?”. Đây là câu hỏi về lâm sàng rất quan trọng, làm nổi lên vấn đề là khi cân nhắc tính hợp lý của việc theo dõi sẽ có cơ hội phát hiện sớm tái phát, cải thiện sống còn. Mổ cắt lại được có thể xem là trị khỏi khi tái phát còn giới hạn tại chỗ.

điều trị ung thư đại trực tràng 6

Phẫu thuật cũng có thể trị khỏi cho những vị trí di căn còn giới hạn, như di căn gan. Gần 40% bệnh nhân sống còn 5 năm sau khi được cắt một phần gan do di căn. Mặc dù di căn đơn độc ở phổi ít gặp hơn là di căn gan, cắt bướu di căn cho từng nhóm bệnh nhân chọn lọc cẩn thận, cho thấy thời gian sống còn 5 năm từ 34-45%.

Thời gian theo dõi được khuyến cáo là từ 3-6 tháng trong ba năm đầu, mỗi 6 tháng cho năm thứ tư và năm thứ năm, sau đó là mỗi năm nên tái khám một lần.

Ung thư đại-trực tràng là loại bệnh thường gặp tại nước ta, tuy nhiên nếu được phát hiện sớm, chỉ định điều trị đúng sẽ góp phần làm tăng tỉ lệ chữa khỏi bệnh. Quá trình chăm sóc sau mổ, chế độ dinh dưỡng hợp lý cũng như chiến lược theo dõi một cách chặt chẽ sẽ mang lại chất lượng sống lạc quan hơn cho người bệnh.

Leave a Reply