Kiến thức phòng bệnh, chữa bệnh, các bài thuốc dân gian.
Thông tin sức khỏe

Archive for the Bệnh thường gặp Category

Bệnh trĩ khi nào cần phẫu thuật và các cấp độ bệnh trĩ

Bệnh trĩ khi nào cần phẫu thuật và các cấp độ bệnh trĩ

Bệnh nhân mắc bệnh trĩ thường ngần ngại đi khám và điều trị khi ở cấp độ nhẹ. Chỉ khi nào búi trĩ sa ra ngoài, phải đẩy mới lên được người bệnh mới nghĩ đến đến chuyện can thiệp và điều trị, lúc nào khả năng chữa bằng thuốc là rất thấp và buộc phải phẫu thuật cắt trĩ. Nguyên nhân và dấu hiệu trĩ Trĩ là bệnh do sự căng dãn quá mức tại các tĩnh mạch ở trực tràng – hậu môn gây viêm sưng hoặc xuất huyết. Bệnh thường xảy ra ở người bị táo bón kinh niên, công việc ít đi lại, ở phụ nữ mang thai. Người bị trĩ mới đầu chỉ có cảm giác ngứa rát đôi chút, lâu dần sẽ đi ngoài ra máu và đau rát nhiều hơn. Trĩ ngoại thường sớm được phát hiện và điều trị nhanh hơn, do người bệnh có thể sờ thấy khi trĩ ở mức độ nhẹ. Với trĩ nội, thường người bệnh chỉ nhận biết được khi bệnh đã ở giai đoạn nặng, búi trĩ sa hẳn bên ngoài hậu môn hoặc bị tổn thương dẫn đến xuất huyết nặng, viêm sưng, nhiễm trùng búi trĩ. Bệnh trĩ có mấy cấp độ? Bệnh trĩ chia ra làm hai loại chính là trĩ nội và trĩ ngoại. Trĩ nội: Xuất phát ở bên trên đường lược và không có thần kinh cảm giác Tuỳ theo diễn tiến, được phân thành bốn độ: Độ 1: mới hình thành, chảy máu là triệu chứng chính Độ 2: búi trĩ sa ra ngoài khi đi tiêu nhưng tự lên Độ 3: búi trĩ sa ra ngoài khi đi tiêu, phải đẩy mới lên được Độ 4: búi trĩ sa ra ngoài thường trực và có thể bị thắt nghẹt, dẫn đến hoại tử Trĩ ngoại: – Xuất phát bên dưới đường lược – và có thần kinh cảm giác – Diễn tiến và biến chứng: đau (do thuyên tắc), mẩu da thừa Trĩ hỗn hợp: Tức là trên cùng một bệnh nhân xuất hiện cả trĩ nội và trĩ ngoại. Chữa trị bệnh trĩ có thể không cần phẫu thuật Phương pháp truyền thống: Điều trị bằng phương pháp nội khoa áp dụng cho những búi trĩ nhỏ, chưa bị chảy máu nhiều, đang trong giai đoạn cấp tính gây đau đớn, viêm nhiễm. Muốn điều trị triệt để bệnh trĩ, cần phải can thiệp vào búi trĩ bằng các thủ thuật như chích xơ, quang đông bằng tia hồng ngoại,… hay bằng phẫu thuật loại bỏ búi trĩ và thắt các tĩnh mạch trĩ tận gốc. Phẫu thuật hay thủ thuật không phải là kết luận cuối cùng mà chỉ là một mắt xích trong phác đồ tổng thể. Bởì sau đó còn một việc cực kỳ hệ trọng là phục hồi chức năng hậu môn và điều trị ngăn chặn tái phát. Bệnh trĩ nên chữa trị càng sớm càng tốt Về nguyên tắc, bệnh trĩ […]

Đọc chi tiết toàn bài

Viêm họng cấp xuất tiết và biện pháp điều trị đúng cách nhằm tránh biến chứng

Viêm họng cấp xuất tiết và biện pháp điều trị đúng cách nhằm tránh biến chứng

Viêm họng cấp xuất tiết là bệnh viêm họng cấp tính, xảy ra khá phổ biến quanh năm, ở tất cả mọi lứa tuổi, từ trẻ nhỏ đến người trưởng thành. Khi bị bệnh, bệnh nhân sẽ bị sốt cao, đau họng ngay lập tức mà không qua giai đoạn ủ bệnh. Nguyên nhân gây viêm họng cấp xuất tiết Viêm họng cấp tính là bệnh khá phổ biến, bệnh xảy ra quanh năm nhưng khi thời tiết chuyển mùa thì viêm họng cấp dễ dàng xuất hiện. Viêm họng cấp là tình trạng viêm niêm mạc họng xảy ra một cách đột ngột gây nên bởi virut (cúm, sởi, Adenovirus…), vi khuẩn (phế cầu, tụ cầu, liên cầu, Hemophillus influenzae…). Nguy hiểm hơn cả là liên cầu khuẩn nhóm A (S.pyogenes) vì nó là thủ phạm gây nên biến chứng viêm họng dẫn đến viêm khớp cấp (thấp tim tiến triển), viêm cầu thận cấp là những bệnh khá nguy hiểm hoặc viêm họng cấp do nấm (Candida). Ngoài các nguyên nhân trên phải kể đến các yếu tố nguy cơ như thay đổi thời tiết (gió mùa đông bắc), lạnh quá, ẩm quá, bụi bẩn, bụi công nghiệp, khói (thuốc lá, thuốc lào, khói bếp than, củi, rơm rạ) và có thể do tác động của rượu. Những biểu hiện của bệnh viêm họng cấp xuất tiết Bắt đầu sốt cao, đột ngột (39 – 40oC), ớn lạnh, kèm theo nhức đầu, nuốt đau, đau mỏi thân mình, ăn, ngủ kém. Một số trường hợp có hạch cổ sưng và đau. Người bệnh ở giai đoạn đầu có cảm giác khô nóng trong họng, khát nước, dần dần cảm giác đau rát tăng lên khi nuốt và khi nói, đau lan lên tai và đau nhói khi nuốt. Có thể có nghẹt mũi (một hoặc hai bên) và chảy nước mũi. Thông thường có rát họng và ho khan. Vài ba ngày sau, nếu không được phát hiện và điều trị có thể có khàn tiếng. Khi khám sẽ thấy toàn bộ niêm mạc họng đỏ rực. Màn hầu, trụ trước, trụ sau và thành sau họng phù nề, đỏ, xuất tiết. Hai amiđan sưng to, nếu viêm tái phát thì amiđan thường có hốc, có thể có mủ hoặc bựa trắng như nước cháo phủ trên bề mặt hoặc miệng các hốc amiđan. Xét nghiệm công thức máu sẽ thấy bạch cầu tăng cao, tốc độ máu lắng tăng, chỉ số CRP (C Reaction Protein) dương tính. Xét nghiệm nhày họng, bằng phương pháp nhuộm đơn thấy nhiều tế bào bạch cầu, vi khuẩn (trực khuẩn hoặc cầu khuẩn). Nhuộm bằng phương pháp gram có thể thấy cầu khuẩn gram dương (xếp đôi, hoặc thành đám hoặc đứng riêng rẽ) hoặc thấy cả xoắn khuẩn Vincent. Nếu có điều kiện nuôi cấy chất nhày họng sẽ xác định được loại vi khuẩn gây viêm họng cấp, trên cơ sở đó thực hiện kháng sinh đồ để chọn […]

Đọc chi tiết toàn bài

Thực đơn dành cho người bệnh máu nhiễm mỡ – Nên ăn gì, kiêng ăn gì?

Thực đơn dành cho người bệnh máu nhiễm mỡ – Nên ăn gì, kiêng ăn gì?

Theo lời khuyên của các bác sĩ dành cho bệnh nhân máu nhiễm mỡ, để chữa trị bệnh máu nhiễm mỡ không có thuốc nào tốt bằng 1 chế độ ăn uống kiêng cử và hợp lý. Có nhiều thực phẩm gây hại, làm tăng mỡ máu, cũng có nhiều thực phẩm rất tốt cho sức khỏe, giúp giảm lượng mỡ trong máu, như táo, cá hồi, cá chép. Những người bị mỡ trong máu cao cần biết kiểm soát ăn uống một cách nghiêm khắc. Nên ăn những loại thực phẩm có chứa hàm lượng cholesterol thấp như rau xanh, các sản phẩm được làm từ đậu, thịt nạc thăn… Đặc biệt là nên ăn những loại rau xanh có chứa nhiều chất xơ. Chỉ có như vậy thì mới làm giảm được sự hấp thụ của đường ruột đối với cholesterol. – Không nên ăn tối quá muộn với thức ăn nhiều đạm vì rất khó tiêu hoá và sẽ làm lượng cholesterol đọng trên thành động mạch dẫn đến xơ vữa động mạch. – Nên ăn nhạt vì thức ăn này có lợi cho sức khoẻ và bệnh tim. Kiêng thức ăn có nồng độ chất béo cao, nên ăn những thức ăn ít chất béo như cá, đậu phụ, đỗ tương. – Nên ăn thực phẩm có nhiều tác dụng giảm mỡ trong máu như: Gừng, chế phẩm đậu sữa, nấm hương, mộc nhĩ, hành tây, ba ba, trà, dầu ngô. Để khắc phục tình trạng cholesterol máu cao, chế độ ăn là ưu tiên số một. Người bị máu nhiễm mỡ nên ăn ít chất béo Để giảm cholesterol trong máu, chế độ ăn chỉ được cung cấp dưới 30% calo từ chất béo – Tránh ăn mỡ động vật (mỡ lợn, bơ, mỡ bò…) và kem sữa bò: Những thực phẩm này chứa nhiều chất béo no, những chất rất dễ làm tắc động mạch. Cách tốt nhất là chọn toàn thịt nạc, nếu ăn thịt gia cầm thì nên bỏ da. Nếu dùng các thức ăn từ sữa thì nên chọn loại đã tách kem (còn gọi là sữa gầy). Ngay cả sữa chua hay pho mát cũng nên chọn loại làm từ sữa gầy hoặc sữa có hàm lượng chất béo chỉ 1-2%. – Tránh dùng dầu cọ hay dầu dừa. Không chỉ tồn tại riêng lẻ, các loại dầu này có mặt trong kem thực vật để uống với cà phê (coffee creamers, coffee mate), bánh kem, kẹo chocolate… – Tránh các thức ăn như bơ thực vật dạng thỏi và bánh, bánh nướng lò, sản phẩm dạng rán như khoai tây rán, mì ăn liền và nhiều thức ăn công nghiệp chế biến sẵn khác. Trong những thức ăn này có axit béo dạng trans, có thể làm tăng lượng cholesterol máu. Để tránh axit này, nếu muốn phết bơ lên bánh mì hãy chọn loại bơ thực vật mềm. – Nên dùng dầu ô liu, dầu cải, dầu ngô, […]

Đọc chi tiết toàn bài

Điều trị máu nhiễm mỡ theo các bài thuốc nam, đông y và y học cổ truyền

Điều trị máu nhiễm mỡ theo các bài thuốc nam, đông y và y học cổ truyền

Đối với những người bị chứng máu nhiễm mỡ lâu ngày, cần nhanh chóng có biện pháp điều trị nếu không dễ biến chứng nguy hiểm sau này như nhồi máu cơ tim, xơ vữa động mạch, đột quỵ. Điều trị bằng thuốc Tây y đối với bệnh máu nhiễm mỡ hiện nay còn nhiều hạn chế, trong khi đó, có những bài thuốc đông y, thuốc nam lại điều trị bệnh này rất công hiệu. Mỡ máu tăng là khi mà hàm lượng của một thành phần hoặc là nhiều thành phần chất mỡ trong huyết tương vượt qúa giới hạn bình thường thì gọi là bệnh tăng mỡ máu, cũng có thể gọi là chứng mỡ máu cao (hyperlipidemia). Do mỡ dạng hoà tan trong huyết tương hoặc kết hợp mỡ hòa tan với albumin để vận chuyển đi toàn thân gọi là chứng mỡ – albumin cao (hyperlipoproteinemia). Mỡ máu tăng cao là bệnh do rối loạn chuyển hóa, thường là chứng bệnh nghiêm trọng và phức tạp… Đặc điểm lâm sàng của tăng mỡ máu nguyên phát Triệu chứng không rõ ràng. Chẩn đoán bệnh chủ yếu là dựa vào xét nghiệm mỡ máu. Do mỡ máu cao dẫn đến xơ hoá mạch, động mạch kém đàn hồi; lâm sàng thường biểu hiện triệu chứng thiểu năng tuần hoàn vành, thiếu máu tâm cơ hoặc nhồi máu não do vữa xơ động mạch. Kiểm tra mỡ máu thấy: Lipit toàn phần: cholesterol toàn phần (TC) tăng.Triglyxerit (TG) tăng. Điện di lipoprotein: VLDL (verlow density lipoproteine), LDL (low density lipoproteine), IDL (intermediate density lipoproteine), HDL (high density lipoproteine). Chẩn đoán xác định: một trong các thành phần mỡ máu ( TC, TG, VLDL, LDL, IDL) tăng, đồng thời HDL – C giảm. Nguyên nhân cơ chế bệnh Theo quan niệm của y học cổ truyền thì nguyên nhân của bệnh lý tăng mỡ máu chủ yếu phụ thuộc các yếu tố sau đây: Nhân tố thể chất:Là yếu tố bản tạng hoặc trạng thái thiên thắng hoặc thiên suy của vận hoá và chuyển hoá tạng phủ. Ẩm thực thất tiết. Phần nhiều do ăn nhiều chất béo và ngọt gây tổn hại đến tỳ vị, vận hóa thất điều, đàm trọc nội sinh, đàm trọc hóa mà phát sinh bệnh. Tinh thần, thần chí thất thường. Tinh thần kích thích hoặc biến đổi tính chí mà dẫn đến tư lự thương tỳ, nội tắc thương can, mộc vượng khắc thổ cũng thương tổn đến tỳ vị; tỳ thất kiện vận, thấp trọc xâm phạm mạch đạo mà phát bệnh; tinh thần kinh căng thẳng kết hợp. Điều quan trọng là cơ quan tạng phủ bị rối loạn về chức năng, công năng của 3 tạng ( tỳ, thận, can), trong đó tỳ, thận hư tổn là chủ yếu. Tỳ khí hư nhược, kiện vận thất điều, ẩm thực không thể hóa thành chất tinh vi ứ thành đàm trọc mà phát bệnh; hoặc do tuổi già […]

Đọc chi tiết toàn bài

Bị nấc cụt liên tục kéo dài là bệnh gì và làm sao để chữa khỏi?

Bị nấc cụt liên tục kéo dài là bệnh gì và làm sao để chữa khỏi?

Trong cuộc sống ai cũng bị nấc cụt ít nhất vài lần trong đời, cơn nấc cục thường chỉ kéo dài vài phút và không phải do bệnh lý, không ảnh hưởng gì đến sức khỏe. Tuy nhiên, nếu nấc kéo dài liên tục trên 48 giờ, người bệnh cần phải đi khám bệnh viện để tìm nguyên nhân. Nấc (nấc cụt) là do kích thích dây thần kinh phế vị và hoặc thần kinh hoành gây nên sự co thắt đột ngột cơ hoành trong vài giây, cường độ mạnh, dứt khoát ngoài ý muốn của con người nhằm tống khí ra khỏi buồng phổi, khi luồng khí đi ngang qua dây thanh âm vùng hầu – họng tạo thành tiếng nấc. Nấc có thể gặp ở mọi lứa tuổi, song hay gặp nhất ở trẻ nhỏ. Nguyên nhân gây nấc cụt: Nấc tạm thời, chủ yếu do dạ dày bị căng trướng gây kích thích thần kinh phế vị và cơ hoành do ăn uống quá nhanh, ăn nhiều thức ăn quá nóng hoặc quá lạnh, nhiều gia vị như ớt, uống nhiều các loại nước có ga, rượu, cơ thể suy nhược, mất ngủ, chán ăn, xúc động đột ngột, táo bón. Đây là dạng phổ biến, không ảnh hưởng sức khỏe, không cần điều trị. Nếu nấc kéo dài liên tục trên 48 giờ, hoặc thành chu kỳ thường do các bệnh lý đi kèm hoặc do dùng thuốc: – Viêm thực quản cấp hoặc mạn tính, bệnh trào ngược dạ dày – thực quản, viêm dạ dày, viêm tá tràng, viêm hang vị, viêm, loét bờ cong lớn hoặc nhỏ, loét môn vị, loét tâm vị, hoặc ung thư dạ dày… Hầu hết các bệnh thuộc dạ dày – tá tràng đều tăng tiết dịch vị kích thích gây đau bụng, đầy hơi, chướng bụng, buồn nôn, nôn và một số người bệnh thần kinh hoành bị kích thích gây nấc. – Viêm phổi, tràn dịch màng phổi,… cũng gây kích thích, chèn ép cơ hoành nên cũng gây nấc. – Viêm ống mật, viêm túi mật hoặc viêm tụy tạng cũng có thể kích thích dây thần kinh phế vị hoặc thần kinh hoành gây nên triệu chứng nấc. – Do stress hoặc histeria, hoặc do tổn thương hệ thần kinh trung ương như viêm não do vi khuẩn hoặc do virus, hoặc chấn thương sọ não. Nấc cũng có thể xuất hiện sau phẫu thuật dạ dày – tá tràng, mổ gan mật… – Nấc cũng có thể xuất hiện khi sử dụng một số thuốc, như: thuốc an thần nhóm benzodiazepin, hoặc một số loại thuốc điều trị Parkinson, kháng sinh erythromycin, roxythromycin, ciprofloxacin, ofloxacin… Điều trị nấc: Điều trị không dùng thuốc: Nấc tạm thời sẽ tự biến mất sau 1 khoảng thời gian ngắn và đáp ứng tốt với các biện pháp cơ học đơn giản. Cơ chế của các biện pháp này là làm tăng nồng độ khí CO2 […]

Đọc chi tiết toàn bài

Triệu chứng HIV thời kỳ cửa sổ 3 tháng đầu sau nguy cơ và tư vấn xét nghiệm

Triệu chứng HIV thời kỳ cửa sổ 3 tháng đầu sau nguy cơ và tư vấn xét nghiệm

Triệu chứng nhiễm HIV thường rất mơ hồ, thoảng qua. Có khá nhiều người nhiễm HIV cho rằng không có triệu chứng HIV nào khi mới nhiễm giai đoạn đầu, một số nói rằng họ có triệu chứng như bệnh cúm. Những người nhiễm mới virus HIV đôi khi không thấy triệu chứng, nên nhiều người không biết mình nhiễm. Trong khoảng từ 1-2 tháng sau khi HIV xâm nhập vào cơ thể, có từ 40% đến 90% số người sẽ trải qua các triệu chứng giống cúm, còn gọi là giai đoạn cửa sổ (ARS). Sau đây là một vài dấu hiệu nhận biết có thể bạn đã dương tính với HIV. Triệu chứng nhiễm HIV sớm nhất thường là mệt mỏi: Phản ứng của hệ miễn dịch khi virus HIV xâm nhập khiến bạn thấy mệt khác thường và buồn ngủ. Đau cơ, đau khớp, sưng hạch bạch huyết là triệu chứng thường gặp của giai đoạn đầu: Giai đoạn cửa sổ thường bị nhầm với cúm, hoặc các nhiễm trùng khác, thậm chí là giang mai, viêm gan. Điều đó không ngạc nhiên, vì nhiều triệu chứng của các bệnh này giống nhau. Đau họng và đau đầu: Cũng giống như các triệu chứng khác, đau họng và đau đầu có thể nhận ra nếu bạn đang ở giai đoạn cửa sổ. Nếu bạn nhớ gần đây mình quan hệ tình dục không an toàn thì nên đi kiểm tra ngay HIV. Điều này còn mang lại sự an toàn cho người khác, bởi đây cũng là giai đoạn HIV dễ lây nhất. Cũng nên nhớ lúc này cơ thể chưa tạo ra kháng thể chống lại HIV, vì thế xét nghiệm kháng thể có thể không thấy. Hãy chọn phương án khác như phát hiện ARN virus, nhất là trong vòng 9 ngày sau khi nhiễm. Sốt: Dấu hiệu đầu tiên của giai đoạn cửa sổ có thể là sốt nhẹ, khoảng 38,8 độ C. Sốt nếu có xảy ra, thường đi kèm với các triệu chứng nhẹ khác như mệt mỏi, sưng tuyến bạch huyết, đau họng. Ở thời điểm này, virus đi vào trong mạch máu và bắt đầu nhân lên với số lượng lớn. Do đó, nó gây ra phản ứng kích thích ở hệ miễn dịch. Buồn nôn, nôn, tiêu chảy: Khoảng 30-60% mọi người có buồn nôn, nôn hoặc tiêu chảy ngắn hạn trong giai đoạn sớm của HIV. Phát ban trên da: Phát ban trên da có thể xảy ra ở giai đoạn sớm hoặc muộn của bệnh. Các vết sưng, hồng, ngứa trên da nếu không có lý do thỏa đáng, bạn nên nghĩ tới xét nghiệm HIV. Nóng sốt có phải triệu chứng của HIV? Hỏi: Cháu đang rất lo lắng vì lần đầu quan hệ với gái mại dâm. Mặc dù đã dùng bao cao su nhưng cháu vẫn sợ bị lây nhiễm HIV. Bác sĩ cho cháu biết tỷ lệ nhiễm HIV khi quan hệ có […]

Đọc chi tiết toàn bài

Những triệu chứng, dấu hiệu nhận biết nhiễm HIV giai đoạn đầu chính xác nhất

Những triệu chứng, dấu hiệu nhận biết nhiễm HIV giai đoạn đầu chính xác nhất

Sau khi có hành vi nguy cơ như: quan hệ không an toàn, bao cao su bị rách, cắt tóc bị dao cạo làm chảy máu, nhiều người lo lắng về nguy cơ nhiễm bệnh HIV/AIDS và tìm hiểu về triệu chứng HIV sớm nhất của giai đoạn đầu. Sau đây là các triệu chứng cảnh báo HIV chính xác nhất do các bác sĩ uy tín trên thế giới công bố. Triệu chứng HIV giai đoạn đầu Sốt là triệu chứng sớm nhất của HIV Một trong những dấu hiệu đầu tiên là bị sốt nhẹ. Cơn sốt thường kèm theo các triệu chứng khác như mệt mỏi, nổi hạch và đau họng. Tại thời điểm này, virus di chuyển vào trong máu và bắt đầu tái tạo với số lượng lớn. Hệ miễn dịch là hệ thống bảo vệ cơ thể bạn khỏi các vi sinh vật và tác nhân gây bệnh. Để hoạt động tốt, nó đòi hỏi sự cân bằng và hài hòa. Khi lên cơn sốt đột ngột với các triệu chứng như trên đồng nghĩa với việc bạn đã bị viêm hệ miễn dịch. Mệt mỏi là dấu hiệu nhiễm HIV sau khi có hành vi nguy cơ Khi hệ thống miễn dịch bị “bao vây” bởi virus gây bệnh sẽ làm bạn cảm thấy mệt mỏi và có thể bị hôn mê. Bất kỳ ai trong cuộc đời đều mắc phải chứng mệt mỏi. Có người thỉnh thoảng mới bị mệt mỏi, có người bị mệt mỏi thường xuyên. Nhưng sự mệt mỏi cũng chính là một trong những dấu hiệu đến sớm nhất chứng tỏ có thể bạn đã bị nhiễm HIV. Đau nhức cơ bắp, đau khớp, sưng hạch bạch huyết Những triệu chứng của HIV thường bị nhầm lẫn với bệnh cúm, bạch cầu, nhiễm virus, thậm chí là giang mai hoặc viêm gan. Điều này không gây ngạc nhiên vì nhiều người có các triệu chứng giống nhau. Hạch bạch huyết hay hạch lympho là một trong vô số các cấu trúc trơn, hình bầu dục dẹp, rải rác dọc theo các mạch bạch huyết, là một phần của hệ bạch huyết. Các hạch bạch huyết có mặt ở khắp cơ thể, tập trung nhiều ở một số vùng như cổ, nách, bẹn. Hạch bạch huyết đóng vai trò quan trọng đối với hoạt động của hệ miễn dịch. Chúng chứa các tế bào bạch huyết và có chức năng làm bộ lọc hoặc bẫy giữ lại các phần tử ngoại lai, có thể bị viêm và sưng khi làm nhiệm vụ này. Xuất hiện hạch bạch huyết chứng tỏ hệ thống miễn dịch của cơ thể có xu hướng bị viêm vì nhiễm trùng. Khi thấy hạch vùng bẹn sưng to, đau có thể do một số bệnh nhiễm khuẩn thuộc bộ phận sinh dục – tiết niệu như bệnh do vi khuẩn họ Chlamydia. Hạch thường xuất hiện ở nách, háng và cổ. Đau họng và đau […]

Đọc chi tiết toàn bài

Những biểu hiện, triệu chứng HIV sớm nhất sau khi có hành vi nguy cơ

Những biểu hiện, triệu chứng HIV sớm nhất sau khi có hành vi nguy cơ

Theo thống kê của các bác sĩ hàng đầu của Mỹ và Châu âu, khoảng 50% người nhiễm HIV trên thế giới có các triệu chứng HIV. Các triệu chứng này thường khởi phát sau khoảng 2 tuần – 8 tuần sau khi có hành vi nguy cơ. Sau 3 tháng có hành vi nguy cơ (theo các nghiên cứu khoa học mới nhất là 2 tháng), người nghi nhiễm HIV có thể đi xét nghiệm để có kết luận chính xác. Triệu chứng của HIV: Sau một hoặc hai tháng của HIV xâm nhập vào cơ thể, 40% đến 90% số người có các triệu chứng flulike được gọi là hội chứng retrovirus cấp tính (ARS). Nhưng đôi khi HIV triệu chứng không xuất hiện trong nhiều năm, đôi khi thập kỷ sau khi bị nhiễm trùng. “Trong giai đoạn đầu của nhiễm HIV, các triệu chứng phổ biến nhất là không có”, ông Michael Horberg, MD, giám đốc của HIV / AIDS cho Kaiser Permanente ở Oakland, California “Một trong năm người ở Mỹ nhiễm HIV không biết họ nhiễm HIV”. Đó là lý do tại sao bạn nên đi kiểm tra, đặc biệt là nếu bạn có quan hệ tình dục không an toàn với nhiều hơn một bạn tình hoặc sử dụng các loại thuốc tiêm tĩnh mạch. Dưới đây là một số dấu hiệu mà bạn có thể có HIV dương tính. Sốt: Một trong những dấu hiệu đầu tiên trong giai đoạn cửa sổ (ARS) là bạn có thể bị sốt nhẹ, khoảng gần 39oC. Sốt thường kèm theo các triệu chứng nhẹ khác như: mệt mỏi, các tuyến bạch huyết sưng lên, đau cổ họng. “Tại thời điểm này, virus được di chuyển vào trong dòng máu và bắt đầu nhân rộng với số lượng lớn”, bác sỹ Carlos Malvestutto, giảng dạy các bệnh truyền nhiễm và miễn dịch học tại khoa Dược, trường ĐH Y NYU, New York, nói, “Đó là phản ứng viêm của hệ miễn dịch.” Mệt mỏi: Phản ứng viêm tạo ra bởi hệ thống miễn dịch của bạn bị bao vây cũng có thể làm bạn cảm thấy mệt mỏi và lờ đờ. Mệt mỏi có thể là một dấu hiệu sớm của nhiễm HIV. Ông Ron, 54 tuổi, điều hành quan hệ công chúng ở miền Trung Tây nước Mỹ, bắt đầu lo lắng về sức khỏe khi đột nhiên khó thở khi đi bộ. “Tôi làm gì cũng như bị đứt hơi,” ông nói. “Trước đó, tôi đã đi bộ ba dặm một ngày.” Ron đã kiểm tra và phát hiện có HIV 25 năm trước. Đau nhức cơ bắp, đau khớp, sưng hạch bạch huyết: Giai đoạn ARS thường bị nhầm lẫn với bệnh cúm, tăng bạch cầu đơn nhân, hoặc nhiễm trùng khác do virus, bệnh giang mai thậm chí là viêm gan. Đau họng và đau đầu: Cũng như với các triệu chứng khác, đau họng và đau đầu thường là biểu hiện […]

Đọc chi tiết toàn bài

Chữa bệnh viêm xoang mãn tính hiệu quả mà không cần dùng thuốc Tây y

Chữa bệnh viêm xoang mãn tính hiệu quả mà không cần dùng thuốc Tây y

Viêm xoang mãn tính là tình trạng bệnh viêm xoang mũi tái đi tái lại, không có cách nào chữa trị dứt điểm nếu trông chờ vào thuốc Tây. Tuy nhiên, đối với những người kết hợp 2 phương pháp: xông mũi bằng tinh dầu và tập luyện nâng cao sức đề kháng của cơ thể đã đem lại hiệu quả không ngờ trong việc đẩy lùi bệnh viêm xoang. Xem thêm các bài viết khác thuộc chủ đề: bệnh viêm xoang ở trẻ em hoặc chủ đề chữa bệnh viêm xoang Suốt 3 năm trời tôi khổ sở với căn bệnh viêm xoang. Mủ xanh mủ vàng nhiều đến nỗi tôi phải uống kháng sinh liên tục, chọc hút thường xuyên, thậm chí còn đi mổ lệch vách ngăn. Người bạn là bác sĩ từng bảo “bệnh của cậu không khỏi được”. Trong hành trình chữa viêm xoang của mình, tôi biết rằng rất nhiều người khác cũng đang trong tình trạng tương tự, tốn kém tiền của, thời gian và công sức vô cùng, nhưng bệnh vẫn ngày một nặng hơn. Do vậy tôi muốn chia sẻ những kinh nghiệm của mình để mong nhiều người tránh được nỗi khổ ải như thế. 5 năm trước tôi bị một đợt viêm xoang cấp, và được kê kháng sinh. Đợt đó tôi khỏi nhanh chóng. Vài tháng sau, tôi bị lại, và cũng được kê loại kháng sinh ấy, nhưng lần này thời gian điều trị dài gần gấp đôi bệnh mới dứt. Khoảng nửa năm sau, tôi bị một đợt nặng hơn, với rất nhiều mủ xanh, mũi nghẹt thở, mủ chảy cả xuống họng kéo theo viêm họng. Lần này, sau gần 2 tuần hút mủ, dùng thuốc Tây, bệnh vẫn chưa dứt. Tôi được khuyên nên rửa mũi thường xuyên bằng nước muối sinh lý để loại bỏ mủ. Quả thực, phương pháp ấy khá hiệu nghiệm. Bệnh đã giảm đi nhiều, nhưng vẫn không khỏi. Kể từ đó, thi thoảng viêm xoang lại tái phát, đặc biệt là khi nhiễm lạnh (nằm điều hòa lạnh hoặc đi xe máy trời mùa đông). Về sau, bệnh dần nặng hơn, rất dễ bị mủ xanh kèm theo ngạt thở, hắt hơi. Một năm tôi uống cả chục đơn thuốc kháng sinh, kháng viêm, tiêu đờm và thuốc chống dị ứng, cả thuốc tăng miễn dịch, có đợt phải thay đến loại kháng sinh thứ 3 mà bệnh vẫn không dứt hoàn toàn. Cứ được vài ngày mũi trong là mủ xanh lại xuất hiện, ngạt mũi trở lại. Tôi đã phải mua máy khí dung về nhà dùng thường xuyên, thậm chí còn đi mổ vẹo vách ngăn (bác sĩ cho rằng đây là một nguyên nhân khiến dịch mũi ứ đọng, dễ nhiễm khuẩn), đến cả nhà riêng bác sĩ để hút, chữa cho triệt để. Nhưng lúc nào trong mũi cũng có mủ, dù ít dù nhiều. Tôi cũng uống kết hợp nhiều loại thuốc […]

Đọc chi tiết toàn bài

Đi ngoài phân đen là bệnh gì và có nguy hiểm hay không?

Đi ngoài phân đen là bệnh gì và có nguy hiểm hay không?

Đi ngoài phân đen thường có 3 nguyên nhân chính: thứ nhất là do ăn uống các thức ăn sậm màu như huyết heo, gà, thứ 2 là do uống một vài loại thuốc, thứ 3 là do bệnh lý như xuất huyết đường tiêu hóa. Dù nguyên nhân nào đi nữa, nếu bạn bị đi ngoài phân đen vài ngày liên tục, bạn nên đi khám bác sĩ ngay lập tức. Bình thường có thể thấy phân đen trong một số trường hợp do cách ăn uống hoặc một số loại thuốc, chẳng hạn như ăn huyết, bổ sung sắt… Tuy nhiên, phân đen cũng có thể là dấu hiệu của một bệnh lý hoặc tình trạng nghiêm trọng, chẳng hạn như: xuất huyết đường tiêu hóa do viêm loét hay ung thư đường tiêu hóa. Máu có thể chảy từ bất kỳ phần nào của hệ thống tiêu hóa. Từ miệng đến hậu môn, bất kỳ chấn thương hay tổn thương mà gây chảy máu có thể dẫn đến việc bài tiết phân có máu. Bên cạnh đó, máu từ tổn thương mũi họng chảy xuống và được nuốt vào. Phân đen sệt như là hắc ín và mùi hôi thối thường là một triệu chứng của chảy máu đường tiêu hóa trên từ dạ dày, gan mật, thực quản hoặc ruột non. Tùy thuộc vào tổn thương nhỏ hay to, mức độ xuất huyết, thời gian máu lưu lại trong đường ruột mà bạn có thể thấy được bằng mắt thường từ máu đỏ tươi, đến máu màu đen, đôi khi khó thấy bằng mắt thường vì chỉ với lượng rất nhỏ máu trong phân nên không thay đổi đáng kể màu sắc của phân, điều này được gọi là có máu ẩn trong phân. Tổn thương từ đường tiêu hóa thấp hơn, bao gồm đại tràng, trực tràng, hay hậu môn thường gây chảy máu máu đỏ tươi có thể lẫn với cục máu đông, đôi khi pha trộn phân, được gọi là phân có máu tươi (hematochezia). Những triệu chứng khác có thể xảy ra với phân đen? Phân đen có thể kèm theo các triệu chứng khác, khác nhau tùy thuộc vào các rối loạn, bệnh tật hoặc tình huống. Các triệu chứng có thể thấy: – Đau bụng. – Thay đổi thói quen đi tiêu. – Tiêu chảy. – Đầy hơi hoặc chứng khó tiêu các triệu chứng giống cúm (mệt mỏi, sốt, đau họng, nhức đầu, ho, đau nhức và đau) phân có mùi hôi thối. – Buồn nôn và ói mửa. – Vàng da. – Ăn không ngon miệng. – Đau hoặc cảm giác nóng rát trực tràng. – Giảm cân không do chủ ý. Các triệu chứng nghiêm trọng Trong một số trường hợp, phân đen có thể chỉ ra một tình huống đe dọa tính mạng khi có các triệu chứng sau đây: – Thay đổi tri giác, ý thức: như lơ mơ, hôn mê hoặc không đáp ứng […]

Đọc chi tiết toàn bài
Page 3 of 712345...Last »