Kiến thức phòng bệnh, chữa bệnh, các bài thuốc dân gian.
Thông tin sức khỏe

Bệnh viêm loét dạ dày tá tràng – Nguyên nhân và thuốc điều trị đúng cách

Ai cũng có thể mắc bệnh viêm loét dạ dày tá tràng, từ thanh niên, người cao tuổi, thậm chí trẻ em cũng có thể mắc bệnh này. Nguyên nhân chủ yếu gây bệnh viêm loét dạ dày là do vi khuẩn HP (Helicobacter pylori), vi khuẩn này lây lan qua nước bọt do đó trong gia đình nếu có một người bị mắc bệnh thì thường các thành viên còn lại cũng bị do ăn uống chung.

Xem thêm các bài viết khác thuộc chủ đề: bệnh đau dạ dày hoặc chủ đề: viêm loét dạ dày tá tràng

Tìm hiểu về bệnh viêm loét dạ dày tá tràng

Đã có những trường hợp người bệnh chảy máu dạ dày hoặc thủng dạ dày ngay sau mổ (thủng hoặc chảy máu ổ loét dạ dày do stress), những bệnh nhân này hoàn toàn bình thường, chỉ sau mổ một ngày thậm chí một đêm đã bị thủng hoặc chảy máu ổ loét dạ dày.

Bệnh viêm loét dạ dày tá tràng nói chung được mọi người gọi là bệnh dạ dày, hay gặp ở người lớn nhất là nam giới, tuy vậy cũng có nhiều trường hợp các cháu dưới 10 tuổi đã có viêm loét dạ dày. Từ viêm loét dạ dày có nghĩa là có viêm hoặc loét dạ dày hay tá tràng, nằm trong hệ thống ống tiêu hoá.

bệnh viêm loét dạ dày tá tràng 1

Dạ dày là một túi đựng thức ăn đặc biệt phía trên nối với thực quản phía dưới nối với tá tràng, ruột non. Ở người bình thường dạ dày nằm vùng trên rốn (thượng vị) liên quan đến gan, nách, tuỵ, đại tràng và mặt, phần đứng của dạ dày nằm ngay dưới mũi ức, phía dưới của phần nằm ngang gần ngang rốn. Sức chứa của dạ dày từ 1 – 1,5 lít tuỳ theo tuổi và tuỳ từng người. Khi có bệnh lý gây hẹp ở môn vị thức ăn không xuống được có thể làm dạ dày giãn xuống đến khung chậu.

Khi thức ăn rơi xuống dạ dày sẽ kích thích tiết pepsin và gastrin, chất gastrin sẽ kích thích tiết axit clo hydric (HCL) sau đó HCL sẽ hoạt hoá các men tiêu hoá, đồng thời tiết dịch vị. Dạ dày sẽ co bóp để nghiền thức ăn và đẩy thức ăn xuống. Tại đây, thức ăn đã nghiền nát sẽ trộn với dịch mật và các men tiêu hoá thành một hỗn dịch, chất bổ, và dinh dưỡng hấp thụ qua thành ruột về gan sau đó sẽ vào máu và đưa đi nuôi cơ thể. Còn chất bã được hút nước thành phân và thải ra ngoài.

Dạ dày được điều chỉnh bằng hai hệ thống là thần kinh và thể dịch, những rối loạn tác động đến hai hệ thống này đều có thể gây nên bệnh đau dạ dày (loét hoặc viêm dạ dày).

Nguyên nhân viêm loét dạ dày

Có nhiều nguyên nhân đưa đến bệnh viêm loét dạ dày bởi vì bất cứ lý do gì ảnh hưởng đến một trong hai yếu tố thần kinh hoặc dịch thể đều gây nên viêm loét dạ dày.

– Tính di truyền: Chúng ta thường nghĩ đau dạ dày cũng có tính di truyền. Cho đến bây giờ giới khoa học vẫn chưa khẳng định được bệnh dạ dày có di truyền hay không. Có thể có rất nhiều người mắc bệnh đau dạ dày, đôi khi trùng lặp trong một gia đình có nhiều người của nhiều thế hệ mắc bệnh làm cho người ta nghĩ đến bệnh di truyền.

– Chất kích thích tác động trực tiếp lên dạ dày (thể dịch): Thuốc lá và cà phê, hai chất kích thích này làm cho dạ dày tăng tiết mạnh cho nên tỷ lệ mắc bệnh ở những người nghiện cà phê và thuốc lá rất cao.

– Uống nhiều rượu bia và lối sống không khoa học: Thói quen ăn quá nhanh, không nhai kỹ, vừa ăn xong đã làm việc nặng hoặc chơi thể thao ngay hoặc ăn uống không giờ giấc nhất định, lúc no quá, lúc đói quá…

– Yếu tố thần kinh: Ở nước ta, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, do điều kiện sinh hoạt thiếu thốn, yếu tố thần kinh căng thẳng thì bệnh thủng dạ dày, chảy máu dạ dày và viêm loét dạ dày cũng gia tăng.

– Nhịp sống nhanh: Ngày nay, với nhịp sống và làm việc tăng nhanh, yêu cầu khả năng làm việc cao hơn, có nhiều căng thẳng (stress) hơn nên bệnh viêm loét dạ dày cũng xuất hiện nhiều hơn trong giới tri thức, thậm chí có một số cháu nhỏ học thi quá căng thẳng cũng có thể mắc bệnh.

– Gần đây các nhà khoa học tìm thấy một loại vi khuẩn sống ở ruột thường hay xuất hiện ở dạ dày khi có viêm loét, đó là vi khuẩn HP (Helicobacter pylori), nhưng không phải là cứ có vi khuẩn HP là có loét và nếu có viêm loét dạ dày thì không chỉ dùng kháng sinh điều trị khỏi được viêm loét mà phải kết hợp với các loại thuốc giảm axit và thuốc bọc niêm mạc dạ dày.

Ngoài những yếu tố trên, còn có những yếu tố làm tăng khả năng viêm loét dạ dày như: mùa rét nhiều bệnh nhân đau hơn mùa nóng, rét đậm, rét hại có nhiều người đau hơn rét bình thường.

Triệu chứng của viêm loét dạ dày

Người bệnh viêm loét dạ dày thường đau bụng trên rốn (thượng vị), nếu không phải là viêm dạ dày cấp thì người bệnh đau âm ỉ, đau chu kỳ và đau theo mùa. Tuỳ theo vị trí của ổ loét mà người bệnh đau lúc đói hay lúc no, thường gặp đau về đêm hơn ban ngày, thậm chí có người đau theo giờ nhất định.

Kèm theo đau thường là ợ hơi, ợ chua, tuy vậy dấu hiệu này không nhất thiết phải có, nhiều người chỉ đau trên rốn một thời gian, không có triệu chứng ợ hơi ợ chua mà đi khám bệnh đã phất hiện loét dạ dày nặng rồi, ngoài ra có thể có các triệu chứng như táo bón, nôn hoặc đầy bụng khó tiêu…

Các biến chứng của viêm loét dạ dày tá tràng

Có 4 biến chứng chính viêm loét dạ dày:

Chảy máu dạ dày: Bệnh nhân có triệu chứng của đau dạ dày một thời gian, thường vào mùa rét đột nhiên thấy người choáng váng, vã mồ hôi, sau đó xuất hiện nôn ra thức ăn lẫn máu tươi, máu cục hoặc dịch nâu đen và nhiều giờ sau sẽ có phân đen sệt như hắc ín, khi cho nước vào thấy loang đỏ. Nếu chảy máu nhẹ thì người bệnh chỉ thấy mệt mỏi, đôi khi hoa mắt chóng mặt và ỉa ra phân đen chứ không có nôn ra máu.

Thủng dạ dày: Thường thủng ở loét dạ dày hoặc ổ loét hành tá tràng, bệnh nhân đau đột ngột trên rốn, triệu chứng kinh điển mô tả đau đột ngột dữ dội như dao đâm trên rốn, cúi lom khom không đứng thẳng lên được, nếu thăm khám sẽ thấy bụng cứng như gỗ vì bệnh nhân đau phải cứng bụng để chống lại cái đau. Đây là bệnh cấp cứu vì nếu không phẫu thuật sớm sẽ đưa đến viêm phúc mạc và tử vong.

Hẹp môn vị: Hẹp môn vị là do loét hành tá tràng hoặc loét môn vị, lúc đầy thức ăn ở dạ dày bị cản trở xuống chậm, dạ dày tăng co bóp, dần dần nếu hẹp hoàn toàn thức ăn không xuống được nữa, dạ dày giãn to, người bệnh gầy nhanh vì không có dinh dưỡng, nôn ra thức ăn cũ. Đây là biến chứng hay gặp ở loét hành tá tràng, ngày nay do nhiều phương tiện chuẩn đoán, nhiều thuốc tốt nên thủng dạ dày và hẹp môn vị đã giảm đi nhiều nếu người bệnh được phát hiện và điều trị sớm.

Loét dạ dày ung thư hoá: Chỉ gặp ở các ổ loét dạ dày, chưa gặp trường hợp loét ở hành tá tràng, các ổ loét dạ dày lâu ngày có sự thay đổi tế bào dẫn đến ung thư hoá.

bệnh viêm loét dạ dày tá tràng 2

Các phương pháp phát hiện bệnh dạ dày

Ngoài khám lâm sàng, dựa vào triệu chứng người bệnh kể, bác sĩ có thể áp dụng một số biện pháp sau để chẩn đoán bệnh dạ dày.

Chụp X-quang chẩn đoán: Bệnh nhân nhịn ăn, được uống một cốc thuốc cản quang, sau đó chụp nhiều film để phát hiện hình ảnh tổn thương, phương pháp này đã tồn tại rất nhiều năm đến nay ít có giá trị hơn nội soi chẩn đoán.

Nội soi chẩn đoán: Các thầy thuốc dùng một ống nội soi mềm luồn từ miệng qua thực quản xuống đến dạ dày tá tràng, qua ống nội soi nhờ có camera quan sát thầy thuốc có thể phát hiện rõ tình trạng niêm mạc dạ dày, và các tổn thương ở dạ dày tá tràng, ngày nay, qua ống nội soi bác sĩ có thể tiến hành một số kỹ thuật như nong hang vị, sinh thiết ổ loét xét nghiệm tế bào, cắt các polyp hoặc can thiệp lên đường mật. Đây là phương pháp chính xác nhất, nhanh và có thể điều trị một số bệnh.

Các biện pháp phòng và chữa bệnh

Phòng bệnh đau dạ dày không khó khăn, chủ yếu là chế độ ăn uống và sinh hoạt điều độ, tránh các chất kích thích như thuốc lá, cà phê, rượu bia hoặc chế độ làm việc căng thẳng, cần có chế độ nghỉ ngơi, chơi thể thao rèn luyện thể lực và tránh stress, với những người làm việc trí óc cần có chế độ vận động phù hợp, tránh thức quá khuya.

Nam giới gặp nhiều hơn nữ giới, có thể do thói quen sinh hoạt giờ giấc không phù hợp, ăn uống thất thường, làm việc quá căng thẳng, hút thuốc và uống cà phê nhiều. Cần điều chỉnh thói quen sinh hoạt điều độ để tránh mắc bệnh dạ dày.

Điều trị bệnh dạ dày phụ thuộc lớn vào việc chẩn đoán chính xác và sự phối hợp của bệnh nhân, nếu như chẩn đoán đúng nhưng bệnh nhân không phối hợp thay đổi thói quen sinh hoạt không đúng hoặc không dùng thuốc đúng theo chỉ định thì điều trị không hiệu quả hoặc không như mong muốn, ngoài ra có thể dẫn đến tình trạng viêm loét dạ dày nặng hơn.

Nguyên nhân khiến viêm loét dạ dày nặng hơn

Bệnh viêm loét dạ dày phổ biến đến thế nhưng nhiều người xem thường vì ỷ y là thuốc trị bệnh bao tử không thiếu. Đáng nói là số người may mắn lành bệnh vẫn rất ít.

Bạn có biết bệnh nào là nguyên nhân dẫn đến tình trạng nghỉ bệnh nhiều nhất? Bệnh nào là lý do hàng đầu gây tiêu hao tài chính vì người bệnh phải mua thuốc thường xuyên để tự điều trị?

Bệnh nào gây trở ngại nhiều nhất cho hiệu quả điều trị nhiều bệnh khác vì bệnh nhân hoặc không thể dùng thuốc theo đúng phác đồ hoặc nếu dùng được thì dược phẩm khó hấp thu tối đa như mong muốn?

Đáp án không chút nghi ngờ, đấy chính là bệnh viêm loét dạ dày- căn bệnh với toàn bộ tiến trình bệnh lý là một chuỗi liên hoàn từ mâu thuẫn này đến nghịch lý khác.

Trước hết, ít khi bệnh viêm loét dạ dày thành hình vì mũi dùi công kích từ bên ngoài mà là do hậu quả của mâu thuẫn trong nội bộ cơ thể. Muốn làm tròn nhiệm vụ tiêu hóa, dạ dày phải tiết ra chất chua để phân giải thức ăn.

Không có dịch vị thì không xong nhưng nếu vì lý do nào đó mà lượng dịch vị còn thừa quá nhiều, như trong trường hợp của người ăn uống thất thường hoặc ngày đêm lo lắng thái quá…, thì chính chất này khi vô công rỗi nghề sẽ quay lại tấn công ngay niêm mạc của dạ dày để tạo thành ổ viêm tấy rồi lở loét.

Bệnh viêm loét dạ dày tất nhiên không thể xảy ra nếu mặt trong dạ dày được bảo vệ bằng một lớp chất nhầy do chính niêm mạc dạ dày bài tiết. Chức năng này dễ bị xáo trộn nếu người bệnh tiếp tay cho căn bệnh qua cuộc sống căng thẳng, thói quen hút thuốc, uống rượu, lạm dụng dược phẩm…

Bệnh viêm loét dạ dày phổ biến đến thế nhưng nhiều người xem thường vì ỷ y là thuốc trị bệnh bao tử không thiếu. Đáng nói là số người may mắn lành bệnh vẫn rất ít.

bệnh viêm loét dạ dày tá tràng 3

Thêm vào đó, biến chứng từ xuất huyết tiêu hóa bước qua ung thư dạ dày đang tiếp tục tăng. Phải có điều gì đó không thuận lý trong chẩn đoán và điều trị viêm loét dạ dày? Đúng vậy, theo báo cáo trong tháng vừa rồi của y sĩ đoàn bên CHLB Đức, bệnh viêm loét dạ dày sở dĩ tác hại đến thế là vì:

– Nhiều thầy thuốc trị bệnh theo kiểu chạy theo dấu hiệu đau một cách thụ động thay vì chủ động bảo vệ niêm mạc dạ dày.

– Không thiếu nhà điều trị chỉ tập trung vào dạ dày nên quên các yếu tố khiến vết loét trên niêm mạc khó lành. Chẳng hạn bệnh nội tiết đi kèm, sai lầm trong chế độ dinh dưỡng, cách sống của bệnh nhân trái ngược nhịp sinh học…

– Phần lớn bệnh nhân không thay đổi nếp sinh hoạt cũng như thói quen ăn uống mà chỉ dựa vào thuốc.

Viêm loét dạ dày dễ dẫn đến ung thư

Khoảng 20% bệnh nhân bị loét dạ dày, tá tràng nhưng không hề có triệu chứng. Chỉ đến khi người bệnh vào viện vì các biến chứng như xuất huyết tiêu hóa, thủng dạ dày hoặc hẹp môn vị, phải nội soi kiểm tra mới phát hiện ra bệnh.

Dạ dày có vai trò quan trọng trong dinh dưỡng. Ngoài việc dự trữ thức ăn đưa vào để tiêu hóa dần, dạ dày còn là cơ quan nghiền nhuyễn thức ăn và tạo điều kiện thuận lợi cho tiêu hóa, hấp thu thức ăn ở ruột non.

Loét dạ dày – tá tràng là bệnh khá phổ biến trên thế giới và ở Việt Nam. Ở các nước đang phát triển, tỷ lệ người bệnh ước tính khoảng 10%, hàng năm tăng khoảng 0,2%. Ở Việt Nam, theo điều tra trong những năm gần đây, bệnh chiếm khoảng 26% và thường đứng đầu trong các bệnh ở đường tiêu hóa và có chiều hướng ngày càng gia tăng. Theo Hội Khoa học Tiêu hóa Việt Nam, 70% người Việt có nguy cơ bị đau dạ dày.

Bệnh viêm loét dạ dày – hoành tá tràng làm ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của nhiều người, thậm chí gây xuất huyết, thủng hoặc ung thư dạ dày. Nguyên nhân gây loét dạ dày do vi khuẩn Helicobacter Pylori (vi khuẩn H.P) hoặc dùng thuốc giảm đau, chống viêm thường xuyên làm giảm khả năng sản sinh chất nhầy bảo vệ niêm mạc dạ dày. Bệnh còn bắt nguồn từ lối sống không điều độ, ăn nhiều chất cay, chua, ăn uống không khoa học đúng giờ, dùng rượu bia nhiều, làm việc căng thẳng kéo dài, thức đêm quá nhiều, người hay lo lắng, sợ hãi và stress.

Những triệu chứng viêm loét dạ dày thường gặp nhất là đau vùng thượng vị. Triệu chứng đau thường liên quan tới bữa ăn từ 30 phút đến 2 giờ, đau có thể xuất hiện khi đói hoặc nửa đêm về sáng, có khi chỉ biểu hiện bằng cồn cào, ăn vào là dịu đi. Đau bụng có thể xuyên ra sau lưng, đau lan sang phải. Cơn đau còn có tính chu kỳ, đau khoảng từ 2 đến 8 tuần kể cả không điều trị gì thì triệu chứng đau cũng giảm, sau đó sẽ có đợt đau tái phát. Một số bệnh nhân xuất hiện ợ chua, nóng rát vùng thượng vị hoặc giảm cân không rõ nguyên nhân. Khoảng 20% bệnh nhân bị loét dạ dày – tá tràng nhưng không hề có triệu chứng, mà người bệnh vào viện vì các biến chứng như xuất huyết tiêu hóa, thủng dạ dày, hẹp môn vị hoặc nội soi kiểm tra mới phát hiện ra bệnh.

bệnh viêm loét dạ dày tá tràng 4

Biến chứng của các bệnh lý trên ở dạ dày mà không được điều trị hoặc điều trị không đến nơi đến chốn có thể dẫn đến ung thư dạ dày. Đây là một dạng ung thư rất thường gặp, chiếm vị trí hàng đầu trong các ung thư đường tiêu hóa. Để điều trị bệnh kịp thời và triệt để, việc dùng thuốc điều trị phải kết hợp cả việc ăn uống khoa học và vượt qua các triệu chứng stress. Người bệnh cần lưu ý 2 điều trong việc điều trị viêm loét dạ dày tá tràng sau đây:

– Cắt cơn đau dạ dày không quá khó nhưng nếu thầy thuốc chỉ tập trung trị vào triệu chứng mà quên bảo vệ niêm mạc dạ dày thì bệnh sẽ tái phát .

– Bệnh nếu có thuyên giảm cũng không lành hẳn nếu thầy thuốc không lưu tâm đến yếu tố bội nhiễm khiến niêm mạc dạ dày viêm nhiễm trở lại. Chính các yếu tố nhỏ này mà viêm loét dạ dày tá tràng đã từ lâu có mặt trong danh sách bệnh thời đại. Vì vậy, đau dạ dày tuy không phải nan y nhưng không khó để chữa khỏi.

Khi nào cần nội soi dạ dày để phát hiện bệnh viêm loét?

Hiện nay, thủ thuật nội soi dạ dày được chỉ định khá rộng. Việc chẩn đoán bệnh bằng nội soi có độ chính xác cao hơn so với phương pháp chụp X quang hay siêu âm. Ngoài việc chẩn đoán bệnh, nội soi dạ dày còn được chỉ định để lấy các dị vật ống tiêu hóa, điều trị xuất huyết tiêu hóa, xét nghiệm vi khuẩn HP, giúp lấy các mẫu mô sinh thiết từ tổn thương hoặc niêm mạc dạ dày gửi xét nghiệm khi nghi ngờ ung thư .

bệnh viêm loét dạ dày tá tràng 5

Nội soi dạ dày khi nào?

Người bệnh cần thực hiện nội soi đường tiêu hóa trên khi có các triệu chứng: Khó nuốt hay nuốt đau, nuốt nghẹn, nuốt vướng; Đau sau xương ức, cảm giác trào ngược, thường xuyên buồn nôn khi đánh răng; Đau thượng vị, nóng rát thượng vị. Nôn ra máu; Ợ chua, ợ hơi, ợ nóng, chậm tiêu, buồn nôn và nôn, đầy hơi, thiếu máu, thiếu sắt; Ho, viêm họng kéo dài, cảm giác vướng; Sụt cân nhanh không rõ nguyên nhân; Ăn uống chung với người đã bị nhiễm vi khuẩn HP và có một trong những triệu chứng trên.

Cần chuẩn bị gì trước khi nội soi dạ dày?

Để đảm bảo nội soi được an toàn và có kết quả tốt, bệnh nhân cần phải nhịn ăn uống trước nội soi tối thiểu 6 giờ để tránh sặc thức ăn và bảo đảm cho việc quan sát, đánh giá tổn thương trong quá trình nội soi (nên nội soi dạ dày vào buổi sáng, sau 1 đêm không ăn uống). Khi bị hẹp môn vị, bệnh nhân cần phải nhịn ăn lâu hơn (12 – 24 giờ) hoặc phải đặt ống thông để bơm rửa dạ dày. Không uống nước có màu, sữa, thuốc cản quang… vào buổi sáng ngày nội soi. Ngoài ra, bệnh nhân cần cho bác sĩ nội soi biết các loại thuốc đã dùng gần đây, tiền sử dị ứng thuốc và các bệnh kèm theo nhằm đảm bảo tính an toàn của thủ thuật nội soi.

Sau khi thực hiện nội soi, nên hạn chế dùng thức ăn cay nóng vì có thể tổn thương niêm mạc miệng mà bạn không nhận biết được do ảnh hưởng của thuốc tê. Không nên khạc nhổ mà chỉ ngậm và súc miệng với ít nước muối pha loãng là đủ. Các triệu chứng có thể gặp sau nội soi như: đau họng, bụng chướng hơi, buồn nôn, bí tiểu… nhưng nó sẽ mất trong vòng 24 giờ.

Ai không nên thực hiện nội soi dạ dày?

Nội soi dạ dày là một thủ thuật khá an toàn. Bệnh nhân thường về nhà ngay sau soi. Biến chứng nặng có thể gặp là thủng ống tiêu hóa, sốc phản vệ nhưng rất hiếm gặp. Nội soi dạ dày không có chống chỉ định tuyệt đối. Vài trường hợp, bác sĩ có thể hoãn soi khi nghi ngờ thủng dạ dày, bỏng do uống acid, suy tim, thiếu máu cơ tim cấp, suy hô hấp hoặc mới ăn no.

Dùng kháng sinh trong viêm loét dạ dày

Vi khuẩn Helicobacter pylori gây viêm loét dạ dày cũng đề kháng với thuốc như các vi khuẩn khác cho nên cần thận trọng trong việc dùng kháng sinh mới có hiệu quả, tránh sự kháng thuốc.

Vì sao phác đồ chuẩn điều trị H.pylori không hiệu quả?

Phác đồ chống H. pylory thường gồm một cặp kháng sinh nhằm tăng hiệu lực, chống sự kháng thuốc. Tính acid của dạ dày không thuận lợi cho việc phát huy hiệu lực kháng sinh nên thường dùng phối hợp cặp kháng sinh với kháng acid. Khi dùng các dược có sẵn sự kết hợp kháng sinh với kháng acid thì vì kháng sinh đã được bảo vệ nên có thể uống cùng lúc cả hai thành phần này.

Còn nếu khi dùng kháng sinh và các chất kháng acid tách rời thì phải dùng kháng acid trước, rồi sau đó mới dùng kháng sinh. Dưới đây là các phác đồ chuẩn:

Phác đồ dùng cho điều trị lần đầu (chưa có sự kháng thuốc):

– Cặp kháng sinh clarithromycin + amoxicyclin hoặc clarithromycin + metronidazol kết hợp với kháng acid ức chế bơm proton omeprazol (haylansopropzol, rabeparazol, esomeparazol). Phác đồ này Mỹ dùng 14 ngày, châu Âu dùng 7 ngày. Kết quả ở Mỹ cao hơn ở châu Âu 7 – 9%. Tỉ lệ bị kháng của clarithromycin 10%, metronidazol 30%.

– Cặp kháng sinh clarithromycin + amoxycyclin hay clarithromycin+ nitromidazol kết hợp với kháng acidrantinidin bismuth acid. Phác đồ này kháng sinh ít bị kháng hơn so với phác đồ dùng kháng acid ức chế bơm proton.

– Căp kháng sinh nitronidazol + tetracyclin hay amoxicyclin + furazolidon kết hợp với kháng acid bismuth. Phác đồ này rẻ tiền nhưng furazolidon có nhiều tác dụng phụ.

bệnh viêm loét dạ dày tá tràng 6

Phác đồ dùng cho điều trị lần thứ hai (do kháng thuốc):

Không có khuyến cáo cụ thể. Đa số dùng cặp kháng sinh clarithromycin + tinidazol, kêt hợp với kháng acid ức chế bơm proton lansoprozol. Các hãng dược phẩm thiết kế biệt dược với chủng loại, hàm lượng kháng sinh cố định theo các phác đồ này.

Vẫn còn 30% số ca viêm loét dạ dày do các nguyên nhân khác nhau (dùng steroid, corticoid…). Do vậy, khuyến cáo phải thử chắc chắn bệnh do H. pylori mới dùng kháng sinh.

Việc xét nghiệm tìm H. pylori không khó. Chẩn đoán bằng hình ảnh là cần để xác định bệnh nhưng lại không thể thay thế việc xét nghiệm tìm H.pylori, vì đây là khâu xác định nguyên nhân bệnh, quyết định việc dùng thuốc, rất cần thiết không thể bỏ qua. Tuy nhiên vì có sẵn biệt dược nên có người vẫn tự dùng mà không qua việc xét H. pylory.

Trước đây việc dùng các phác đồ trên bằng các biệt dược bào chế cố định thường cho kết quả tới 80 – 90%. Tuy nhiên, về sau này mức đề kháng kháng sinh của H. pylory ngày càng tăng nên dùng các biệt dược này có khi không hiệu quả.

Mức đề kháng kháng sinh của H.pylori hiện nay

Một tổng quan phân tích các dữ liệu nhiều nghiên cứu (từ năm 2006 – 2009) trên 22.904 người dùng kháng sinh cho thấy: tỉ lệ đề kháng tiên phát cuả H. pylory khá cao so vơi năm 2005: clarithromycin 17,2%; metronidazol 26,7%; amoxicyclin 11,2%; tetracyclin 5,9%; levofloxacin 16,2%; đa kháng với 2 kháng sinh trở lên 9,6%.

Tỉ lệ này thay đổi theo từng châu lục, từng nước, có nơi vượt rất xa mức trung bình. Với clarithriomycin: tỉ lệ kháng chung ở châu Âu 11,1% trong đó Hà Lan chỉ 0,8%, Thụy Điển chỉ 1,5% song Tây Ban Nha lại đến 49,2%; tỉ lê khan g chung ơ châu A 18,9% trong đó Malaysia chỉ 2,1% song Nhật Bản lại đến 40,7%. Với tetracyclin, amoxicyclin, metronidazol tỉ lê khan g chung ở châu Phi lần lượt là 43,9% – 65,6% – 92,4%; nghĩa là các kháng sinh này hầu như không còn hoặc còn rất hiệu lực với H. pylory.

Các kháng sinh này còn dùng trong nhiều nhiễm khuẩn khác như dùng clarithromycin, amoxicyclin, metronidazol, levofloxacin trong nhiễm khuẩn hô hấp, đường ruột; dùng levofloxacin trong nhiễm khuẩn niệụ. Chính quá trình dùng các kháng sinh cho các bệnh khác đã tạo điều kiện cho H. pylory quen rồi phát sinh sự đề kháng với các kháng sinh này.

Trong nhiễm khuẩn hô hấp, Bắc Mỹ chủ yếu dùng macrolid (clarithromycin), châu Âu chủ yếu dùng betalactam dẫn dến tỉ lệ đề kháng của H. pylori với clarithromycin ở Mỹ cao (29,3%) trong khi ở châu Âu lại thấp (chỉ 11%). Trong các nhiễm khuẩn hô hấp, đường ruột, châu Phi dùng rất nhiều tetracyclin, amoxicyclin, metronidazol dẫn dến tỉ lệ đề kháng của H. pylory với các kháng sinh này cũng rất cao (lần lượt là 43,9% – 65,6% – 92,4%) trong khi ở châu Âu lại thấp (lần lượt là 2,1% – 0,5% – 17%).

Khuyến nghị dùng thuốc và vận dụng

Từ các nghiên cứu trên, một số nơi đưa ra khuyến cáo mới về dùng thuốc. Chẳng hạn: châu Âu đưa ra phác đồ dùng 4 thuốc: bismuth subcitratkalium + metroniodazol + tetracyclin + omeprazol. Phác đồ này đạt hiệu quả 80%, cao hơn phác đồ chuẩn clarithromycin + amoxicyclin + omeparzol đạt hiệu quả chỉ 55%.

Ngoài ra, châu Âu còn đưa ra hướng dẫn: ở những nơi tỉ lệ H. pylory đề kháng clarithromycin từ 15 – 20% trở lên thì nên kéo dài liệu pháp dùng 3 kháng sinh lên 14 ngày; ở những nơi tỉ lệ đề kháng clarithromycin trên 40% thì nên ưu tiên kêt hợp với amoxicyclin.

Dĩ nhiên, vì mức đề kháng của H. pylory với các kháng sinh này khác nhau tùy từng nước nên nước này không thể máy móc áp dụng khuyến cáo của nước khác. Mấy chục năm qua, nước ta cũng dùng nhiều clarithromycin, amoxicyclin, metronidazol… trong nhiễm khuẫn hô hấp dường ruột, nên có thể suy ra tỉ lệ đề kháng của H. pylory với các kháng sinh này cũng cao.

Giám sát được sự đề kháng của H. pylory với từng kháng sinh cụ thể trên từng vùng để đưa ra được phác đồ thích hợp là việc cần thiết. Người bệnh cần khám để xác định chắc chắn viêm loét dạ dày do nhiễm H. pylory mới dùng thuốc kháng sinh; tùy theo tiền sử dùng thuốc, sự đáp ứng thuốc với từng người mà thầy thuốc sẽ chọn kháng sinh thích hợp. Tự ý dùng kháng sinh không dựa trên căn cứ nào thì có không chữa khỏi bệnh mà còn làm tăng sự kháng thuốc trong cộng đồng.

Leave a Reply